Thơ Tháng Bẩy

19/07/202217:36:00(Xem: 4189)

THƠ QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

 

Dentelles et Spectres (Lace and Ghosts) 1855-1856 - Victor Hugo (1802-1885)
Bức tranh Dentelles et Spectres (Lace and Ghosts), 1855-1856, của văn hào Victor Hugo (1802-1885).

 

 

dối trá nhểu nhão

 

 ̶ ̶ ̶ ̶  mầm mống của tội lỗi là…  

hắn cười khà khà lên mặt kẻ cả

 

xùi bọt mép phun châu nhả ngọc

liên tu bất tận nổ tung tóe đất trời

 

xin đừng bơm thêm lời tụng ca kệch cỡm

xin đừng vỗ tay kéo dài bi-hài kịch thời thượng

 

cuộc chơi rồi sẽ tàn nhưng dư vị không tan

tựa vết chàm khi ngấm sâu vào tâm não

 

một ngày dài khét nắng trên dốc vô minh

một ngày dài khát mưa khan cổ họng

 

một ngày cúi xuống nhìn quanh

trong phiên bản vườn địa đàng nguyên thủy

 

ngụp lặn trong bóng râm góc khuất

tội lỗi như những con giòi gặm nhấm cải bắp

 

và mầm mống của tội lỗi là chính hắn

kẻ mị dân / nhà tiên tri giả  ̶ ̶ ̶ ̶  

 

người ôm đầu

bốc mùi tưởng chừng bắp cải hư hoại

 

dối trá nhiễu nhão từ tai từ mắt từ mũi từ miệng

từ cùng khắp các lỗ chân lông

 

và đây không là cú sốc  ̶ ̶ ̶ ̶

không là hóa trang cho lễ hội mardi gras

 

đây chính là người thật mặt thật đương đại

với hộp sọ đầy ắp trò quỷ quái khôn lường.  


 

họ hết rượu rồi

 

cạn chai cạn ly

ký ức hoang dã nghiêng ngã

dao động theo từng nhịp kèn

đêm của jazz hay jazz về đêm?

cơn đau oằn oại khóc nức nở

cứ ném vào tôi

cứ quăng cho tôi

năm tháng rách te tua

chuyện bây giờ mới kể

chuyện bao giờ mới kể

chuyện nghìn lẻ một đêm đương đại

 ̶ ̶ ̶ ̶  họ hết rượu rồi

hết / hết tiệt / dứt khoát hết / bàng hoàng hết / não nề hết

những đôi mắt lừ đừ

những cặp mắt trắng dã

đêm sắp tàn về sáng

ai nhắc một đoạn trong thánh kinh

nước hóa thành rượu

tôi mơ màng nếm thời gian

đầu lưỡi mơn trớn ngày qua đắng ngọt

dè sẻn từng hơi thở

bất cần định vị

nhắm mắt bước như chạy như trốn vào cõi mông lung.

 

Quảng Tánh Trần Cầm   

 

*

 

THƠ THY AN

 

1- Ann Phong. Molded Memory 30x40 mixed media 2010
Tranh Ann Phong.

 

Năm tháng đi qua thất thập

 

hắn ngồi ở cuối khu vườn trầm ngâm

ngày tháng bảy nóng hừng hực

hè Tây phương trở thành nhiệt đới

cháy rừng, mưa lũ, hạn hán, băng tan

cộng thêm chiến tranh tàn bạo

 

hắn len người cố tìm lối thoát

giữa những hung dữ của kẻ chung quanh

giữa những ích kỷ tỵ hiềm của người đối diện

thử xem nơi nào là bến đậu

cho những bấp bênh cuộc sống ?

 

hắn nhìn pho tượng đồng vô cảm

xem như chứng nhân lịch sử

cái khách quan lạnh lùng

đôi khi bệnh hoạn của kim loại phủ rêu

đứng giữa vô thường trời đất

 

hắn cười một mình với gió mây

núi sông như sợi tóc trong tay

mấy vòng nhân quả đêm ngày nhắc nhở

tiếng tâm linh hát vu vơ đồi núi

phương trình vật lý và triết học la cà

 

hắn nghe cơn sốt ngày hè nóng bức

lửa thắp lên nỗi cô đơn

chơi đùa lang thang trên cây cỏ

một nén nhang tạ ơn đời

năm tháng đi qua thất thập

 

– thy an

(19-07-2022, tặng các bạn thiết tha)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ta loài cỏ chưa một lần bén rễ / Trên đất này ta là khói bơ vơ / Phải đêm xưống hay bình minh ló dạng / Mặt trời hồng chưa một bước đi xa...
Có ai thật sự thấy thi sĩ? | Có ai thật sự hiểu thơ? | Thơ vẽ hoa Hướng Nguyệt | tròn như trăng | cánh trong như gương | nhìn thấu thế giới nhụy như viễn vọng kính nhìn vào không gian.
Những khúc thơ ngắn của nhà văn Trần Hoàng Vy. Cảm xúc cô đọng, bất ngờ...
phân thân ̶ ̶ ̶ bạn nói phân thân / nhẹ nhàng tách rời khỏi xác / lênh đênh trên dòng chảy vô hạn / bềnh bồng trong bầu sinh quyển phi trọng lượng / như lạc vào một bức tranh chagall...
Trong thơ ta có gió / Để tháng ngày ngao du / Trong thơ ta có núi / Đứng bên bờ ưu tư...
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...