Trở về

20/09/202214:48:00(Xem: 3236)
Ann Phong for Doi Cho color 1
Tranh Ann Phong

 

Tôi lại trở về. lần nữa

trong một giấc mơ khác. Lạ lùng

cách tiềm thức chúng ta làm việc. Có lẽ nào tôi vẫn còn mong

nhìn thấy trong những kẽ nứt sâu của mặt đất mà mặt trời đốt cháy,

bên mảnh vụn xích xiềng, những hạt giống nảy mầm

có lẽ nào tôi thất bại triền miên

không nuôi tới lớn khôn tình yêu cho quê hương mới

với tất cả mầu nhiệm xứ sở này ban tặng

có lẽ nào tôi vẫn chưa cắm rễ sâu

 

không, không phải nỗi nhớ quê nhà

tôi đã giết chết cảm xúc đó ngày tôi rời đất mẹ

chúng tôi đã ra đi. tinh thần và cơ thể

tôi không nhớ gì ngoài những khuôn mặt của xích xiềng

 

không, tôi không phải là

người dán mắt vào quá khứ

tôi không muốn nhớ những lần tắm mưa thời thơ ấu

tôi từ chối kể tên những con đường tôi đi với đôi giày cao gót đầu tiên

tôi từ chối tìm hiểu điều gì đã xảy ra cho những cây ăn trái trong sân

tôi không thắc mắc nếu những người bạn bây giờ thay đổi

tôi không tin linh hồn cha mẹ tôi còn quanh quẩn nơi ngôi nhà cũ

tôi không chịu để những giọt nước mắt chảy dài trên má ngày đặt chân trở lại sân bay xơ xác của Sài Gòn

 

trong một giấc mơ khác, tôi về

nơi đó

từ sâu thẳm tôi vẫn còn tin, có lẽ

khi nước tràn khe đất nứt, mảnh kim loại bắt đầu han rỉ và những lá mềm của cây lúa mọc lên

khi sáo ngữ văn hiến bốn ngàn năm thay bằng đối thoại về nhân quyền

khi tiếng thì thầm từ quê cũ thay bằng tiếng gọi

nước mắt chảy dài, tôi nói

gốc rễ của một người không đứt mất bao giờ

 

kc Nguyễn

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong thơ ta có gió / Để tháng ngày ngao du / Trong thơ ta có núi / Đứng bên bờ ưu tư...
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.
Câu thơ chưa kịp viết / Cả rừng cây đứng chờ / Và gió ngàn vẫy gọi / Tới đây xem mùa thu...
ghi thêm nét sắc hình hài / vẽ lên câu chữ ngón tay chợt buồn…