Thơ cuối năm...

30/12/202208:39:00(Xem: 4169)
abstract composition-victor hugo (1802-1885)
Tranh Victor Hugo (1802-1885).

 

QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

 

trầm mặc cuối năm 

 

đứa vung vít choáng váng

đứa ê a kệch cỡm

còn nhớ ngày nào

khi ráng chiều đổ dài miên man theo dòng mặc khải

người nằm im lơ đãng chờ đợi bí tích sau cùng

 

từng giọt từng giọt mưa long lanh

chậm chạp len lỏi từ khóe mắt ngây dại

chút son phấn chấm phá rồi cũng nhạt nhòa

đâu đây người bấu víu giữ chặt phút giây

nghe trăm năm vỡ vụn

 

trong giấc mơ hữu cơ huyễn hoặc

có ngực trau chuốt có mông nõn nà

ngự trên ngôi cao

mượt mà thơm phức

ngày hừng đông dậy mùi phồn thực

 

và tiếng hát đồng vọng từ đám mây bạc màu

khi tôi xếp lại những con chữ dằng dặc vàng ố  ̶ ̶ ̶ 

cái bóng ngày qua nhẩn nha trên dòng vô thức

góp nhặt ảo giác

giăng mắc mù sương

lẩn trốn trong bức tranh tường đầu ngõ

 

hôm nay tôi với tay chụp bắt cái bóng lung linh

giữa cơn ho khan khàn đục

cuối năm đến không cảnh báo  ̶ ̶ ̶  như con chó mù

còn ai lang thang lặn ngụp trên dòng nước lợ?


*
 

so what? so what?  

 

vớ vẩn chốn thị phi sau đêm nghìn lẻ hai

một ngày dở hơi không động đậy

phỏng vấn cột đèn thắp sáng chợ trời

bên đống rác to đùng chôn sống lẽ phải

vùi lấp cuộn dây định mệnh chưa thắt gút

 

dưới gầm cầu ông lão gặm mẩu bánh mì

đón cơn gió xa lắc tím lịm đậm mùi hơi nước

thảng thốt trong môi trường mất trí tập thể

lặp đi lặp lại hồi ức ngổn ngang tro bụi

đệm thêm đôi ba câu thần chú bất dị bất biến

 

so what? so what? thì sao? thì sao?

tiếng thét gào vang dội liên tục từ vực tối sâu thẳm

ngày chân cứng đá mềm không là hư cấu

ngón tay phong thấp gõ nhịp trên bàn phím

lắng nghe chữ nghĩa khô khốc rơi rớt lăn lóc rối nùi

 

ngậm từng hớp cafe đen đắng miệng từ ly giấy

cuối năm chợt nhớ làm người xa nhà đã rất lâu

muốn đứng ngã ba đường ngoắc tay giang hồ

quá giang một chuyến về quá khứ te tua vụn vỡ

 

đã quá nửa đêm trên góc phố ngập ngụa rác thải

vẫn đứng ngã ba đường

trong âm vọng dửng dưng chán ngắt

so what? so what? thì sao? thì sao?

 

– Quảng Tánh Trần Cầm

 

*

 

THY AN

 

Về đâu

 

ẩn ngữ nổi chìm tâm thức

rừng hoa thơm ngát dạ hương 

núi non phác lên trăm cảnh

xôn xao thơ ngọc dỗ dành

 

xoa tay nheo mắt ngắm tranh

miếu đền lung lay nhân ảnh

tím rừng nát đá vàng phai

mím môi thương mảnh phù đồ

 

dứt bỏ xiêm y cổ độ

hoa trời rụng rơi mấy cánh

dõi áng mây xanh trôi mãi

từ tâm theo gió xa bay

 

thy an

 

*

 

TRỊNH Y THƯ

Mười bài hài cú chiều cuối năm

1.

Chiều cuối năm ngồi chờ

chuyến xe mãi chưa về bến đậu

chú sẻ giương mắt nhìn.

 

2.

Chiều cuối năm xuống phố

rừng người chẳng nghe ai nói năng

chỉ thấy hình với bóng.

 

3.

Chiều cuối năm ra biển

biển âm âm u mặc nỗi niềm

dưới chân đùn ụ cát.

 

4.

Chiều cuối năm lên đồi

nhìn mây tím vờn quanh rừng trảng

lặng thinh âm nhạc xanh.

 

5.

 

Chiều cuối năm phân vân

không biết làm sao cho hết kiếp

vầng trăng non vừa nhô.


6.

 

Chiều cuối năm nhớ mưa

mùi cỏ ướt dồng dềnh sương khói

thủ thỉ vạt đất nâu.

 

7.

Chiều cuối năm ước hẹn

bóng đổ dài tường gạch hanh hao

ríu rít chim về tổ.

 

8.

Chiều cuối năm nói thầm

đóa môi đắng xin làm kỷ niệm

ký ức chợt ùa về.

 

9.

Chiều cuối năm thơ thẩn

hạ đông thời gian đỏ tím vàng

màu quan san chiếc lá.

 

10.

Chiều cuối năm mình tôi

nơi góc đời lãng quên hiu quạnh

ánh tà huy hương lay.

 

– Trịnh Y Thư

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.