Lữ khách mùa đông

13/01/202300:00:00(Xem: 2725)

toa-heftiba-7Y_8m9shGj8-unsplash
 
Trong vũ điệu day dứt của hoang mạc gió, lữ khách dừng lại, gõ cửa. Căn nhà trống mùa đông. Bàn tay lạnh quẹt một que diêm, nhen lên nỗi buồn, thảng thốt những ước mơ ngày cũ theo tro bụi bay lên, buồn bã như những lời em sắp nói, như ánh lửa lụi tàn, như tuổi thơ đi qua… Có tiếng chuông xa đâu vọng về, đơm hoa trong bóng tối lời nguyện cầu, lữ khách cảm thấy móng vuốt của băng giá tan ra bởi niềm khát khao cháy bỏng… Tuyết rơi trên ô cửa sổ, lấp lánh một nỗi chờ.
 
… Qua bậc cửa hóa đá bởi niềm đau/ Ánh sáng thanh khiết chiếu xuống từ trên cao/ Người lữ khách bước vào trong im lặng…
 
Đến lúc rồi, chúng ta có thể ngồi với lữ khách bên bàn ăn, có quả hạnh đào, bánh mì và rượu đỏ… và những bản cantata của Bach… Và chúng ta có thể nghe được nước mắt của trái tim khóc trong tuyết trắng, và hoa snowdrop hãnh diện xác tín một niềm tin phục sinh.
 
*
 
NGUYỄN ĐÌNH TOÀN
 
Nỗi buồn và bàn tay
 
Khi em trở về
Trời mùa đông đen
Căn nhà không người
Và mùi ẩm mốc
Khi em trở về
Tay đầy nước mắt
Trên thành cửa bụi
Tuổi thơ đi qua

Khi em trở về
Mộ người yêu đó
Hoa trên phiến đá
Cỏ buồn ngón chân
Và cơn gió rét
Que diêm bật lên
Que diêm bật lên
Nỗi buồn thắp lên

Những mơ ước cũ
Sáng lên một lần
Những hình ảnh cũ
Tắt đi một lần
Khi em trở về
Bàn tay khói hương
Buồn xưa sắp hết
Nói gì đi em...
 
– Nguyễn Đình Toàn
 
*
 
INGEBORG BACHMANN [1926-1973]
 
Khôn nguôi
 
(Pháp Hoan dịch từ nguyên tác tiếng Đức)
 
Trong khu rừng mùa đông
tôi bay quanh những trái cây của miền nam ấm áp.
Chúng sẽ rụng về tôi.
Tôi không hề biết
rằng chúng, cũng như tôi, có thể bay nhảy
và mong mỏi khát khao.
 
Mỏ của tôi đông cứng.
Bài hát bị lãng quên.
Tôi bay một đường bay vô định
với con mắt rách bươm,
qua vùng đất sỏi đá,
với móng vuốt của băng giá trên lông
nhưng miệng tôi vẫn khao khát chờ mong
những quả hạnh đào và những dòng sông lấp lánh.
 
Cái chết là một phần của tôi.
Trăng địa cực trong giấc mơ chiếu rạng
những rễ cây của vùng lãnh nguyên cay đắng
mong mỏi xác thân này.
 
Nhưng tôi vẫn chân thật mỗi ngày!
Tôi vẫn bay, với niềm khát khao cháy bỏng!
 
Ingeborg Bachmann là nhà thơ, nhà văn người Áo, một trong những nhà thơ quan trọng nhất trong văn chương hậu chiến Đức thế kỷ 20, bà nổi tiếng với hai tập thơ Thời gian kéo dài (Die gestundete Zeit) và Tiếng gọi từ chòm sao Đại Hùng (Anrufung des Grossen Bäre). (vanviet.info)
 
*
 
GEORG TRAKL [1887-1914]
 
 
Một tối mùa đông
 
(Pháp Hoan dịch từ nguyên tác tiếng Đức)
 
Khi tuyết rơi dày lên các ô cửa sổ,
Và tiếng chuông chiều vang vọng hồi lâu,
Bàn đã bày sẵn cho những kẻ đến sau
Trong căn nhà nhỏ gọn gàng, tươm tất.
 
Trên những lối đi đêm đen dày đặc
Một lữ khách tìm đến trước cổng nhà.
Cây ân phước trong bóng tối đơm hoa
Từ chất sáp sâu trong lòng đất lạnh.
 
Người lữ khách bước vào trong im lặng;
Qua bậc cửa hóa đá bởi niềm đau.
Ánh sáng thanh khiết chiếu xuống từ trên cao
Trên chiếc bàn tròn: bánh mì và rượu đỏ.
 
Georg Trakl là thi sĩ người Áo, trường phái Biểu hiện, bài thơ nổi tiếng của ông, Grodek, nói về chiến trường Grodek thời đế quốc Áo-Hung. (vanviet.info)
 
*
 
TRẦN HOÀNG PHỐ
 
Tiếng chuông cầu hồn
(Trích đoạn 1 và 6)
 
1.
Bầu trời như uống cạn những cơn mưa tháng mười hai
Trên con thuyền năm tháng đang chìm
Những lóng xương thời gian của chứng tích quá khứ
Những bài hát giữa lãng quên và nguyện cầu
Chúng ta đang quỳ giữa thế giới lưu đày
Với ngọn nến ăn năn lắt lay trên tay
Những tảng đá đen và sóng biển lịch sử
 
6.
Trong vũ điệu day dứt của hoang mạc gió
Hãy nói đi những cái bóng hạnh phúc
Làm sao để quên đi
khuôn mặt tối tăm trầm luân của lịch sử
Trên khúc hát thân xác của ban mai
Chúng ta như cố đang hít lấy
Hơi thở phục sinh của bình minh
 
– Trần Hoàng Phố
 
*
 
NGUYỄN BẢO CHÂN
 
Những bản Cantatas của Bach
 
Chỉ với tay
chạm vào phím mở
trên chiếc máy nghe cũ kỹ
chạm vào một đĩa nhạc ngủ quên suốt mùa hè
là những bản Cantatas của Bach* bừng thức
giấc mơ thanh âm
từ trời xanh trào xuống
 
“Alleluia, alleluia…”
giản đơn sao, lời cầu nguyện của ta!
ta mong ngày bình yên
ngày hoa nở ấm cây bậu cửa
ngày ra phố gặp nụ cười
ngày ăm ắp tiếng trẻ đùa chơi nắng vàng
ngày lại có anh
anh ngồi đó, lặng lẽ đọc sách
ta nấu nướng xôn xao
nho nhỏ căn bếp
ly tách bát đĩa lách cách
khua vang những con chữ im,
những ý nghĩ thầm…
 
Chỉ với tay
là chạm vào ước nguyện của chính mình
lời thánh ca dội về ta
vọng lại lá non
ngân nga ngói cũ
che hạnh phúc khỏi mưa
giấu nỗi buồn bớt nắng
 
Chỉ với tay
là chạm vào phím tắt
nhưng vẫn còn tiếng ta thở
theo những bản Cantatas
dìu dặt suốt mùa đông
chiếc máy vô tri
bỗng mở cánh
những thiên thần.
 
 – Nguyễn Bảo Chân 
 
* Cantata (can-tat) là bản nhạc có lời, cho một hoặc nhiều giọng trình tấu cùng khí nhạc, đặc trưng ở một vài phần có kết hợp với giàn hợp xướng. (vanviet.info)
 
*
 
SARA TEASDALE [1884-1933]
 
Một tối mùa đông
 
(PHÁP HOAN dịch)
 
Khung cửa sổ sáng lên trong sương giá,
Cõi trần gian lạnh lẽo tối hôm nay,
Trăng ác độc, và cơn gió đang bay
Như thanh kiếm chém lên trên thân thể.
 
Chúa thương xót người nghèo trên cõi thế,
Không gia đình đang lui tới trong đêm.
Chúa thương xót khách bộ hành không tên
Dưới đèn đường, chẳng còn nơi ẩn náu.
 
Căn phòng tôi như một đêm tháng Sáu,
Nến lung linh trên những nếp màn hoa,
Nhưng đâu đó, như đứa trẻ không nhà,
Trái tim tôi khóc lên trong tuyết trắng.
 
Sara Teasdale là một nhà thơ trữ tình người Mỹ. Năm 1918, bà đoạt giải Pulitzer cho tập thơ Love Songs.
 
*
 

Hoa tuyết điểm
(BẮC PHONG dịch từ bài thơ Snowdrops)

bạn biết tôi là gì, đã sống như thế nào?
và từng biết tuyệt vọng;
lúc đó bạn sẽ hiểu mùa đông có nghĩa gì.
tôi không mong sống sót,
bị đất đè lên trên. tôi hết mong dậy nữa,
để cảm thấy thân mình dưới lớp đất ẩm ướt
lại có thể đáp ứng, sau một thời gian dài
vẫn nhớ làm thế nào mình sẽ lại nở ra
trong ánh dương lạnh lẽo
của thời tiết chớm xuân –
lo sợ, tôi có chứ, nhưng rồi giữa các bạn
lại xác tín thốt lên liều lĩnh một niềm vui
trong cơn gió khô khốc buổi vạn vật hồi sinh.

– Louise Elisabeth Glück  
 
Louise Elisabeth Glück là nhà thơ Mỹ. Bà nhận được hầu hết các giải thưởng quan trọng nhất về thi ca của Mỹ, và đoạt giải Nobel Văn Học năm 2020.
 
*
 
KHƯƠNG HÀ
 
Gió qua đồi vẫn hát
 
Chẳng biết mùa đông đã trôi qua như thế nào
Những hội chợ phù hoa đã tàn như thế nào
Em từ chối sự mời mọc của mù sương lẫn ấm nắng
Lang thang trong khu vườn của chúng mình
Nơi những đám rêu còn in dấu giày của anh
Những gốc cây còn hằn vết bàn tay anh vun
Em lang thang trong căn nhà của chúng mình
Thắp lên từng ngọn nến
Lẩm nhẩm vài câu vu vơ
Im dreaming of a white Christmas…
Chẳng có thiên sứ nào về hát đêm nay
Oh Holy Night…
Những ngón tay run rẩy chạm vào từng sợi dây đàn
Ngân lên lời rét buốt
Em muốn giấu tiếng hát vào một cõi thẳm sâu để được bình yên quỳ bên vết thương mình
Tỉnh táo và nghĩ về anh
Về những gì đã một lần hạnh ngộ và mãi mãi trượt khỏi quỹ đạo buồn tẻ của thời gian
Đã bay về thế giới khác
Như anh
Có lẽ đã “cười bằng ánh sáng của nụ hôn khác”
Và mặc “chiếc áo em chưa từng thấy bao giờ”
Châm điếu thuốc, rít một hơi thật dài
Khói chảy tràn lơ đãng
Lạnh như sương và buồn như sông…
Mùa đông
Gió rít ngoài cửa kính
Những thanh âm khô khốc va vào nhau lập cập
Em mâu thuẫn trong sự cầm tù bởi chính mình
Những khao khát cũng vấp vào nhau ngã nhoài
Chúng nhìn em trách móc
Khẽ vươn tay đốt lò
Lửa bùng lên vĩnh cửu
Phía ngoài kia
Gió qua đồi vẫn hát
Biết đêm nay
Sông có qua đời?
– Khương Hà
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.