Thơ Thy An & Kim Loan

19/01/202318:57:00(Xem: 2952)

altar

THY AN

 

Tro

 

lối nhỏ âm thầm

giọt mưa cỏ ướt

những bước chân trên đồi xanh

những đôi mắt ngấn lệ

bụi trần bay theo gió

tro tàn lãng đãng

câu Di Đà đâu đó

đọc lên thấm lòng

buổi tà dương vắng lạnh chiều đông

 

giọt từ bi khóe mắt

nhỏ xuống ngũ uẩn không tỏ bày

Duyên Nghiệp trần ai 

mấy mươi năm áo lam đi mãi

kinh tụng cho người       

Niệm lành mấp máy

chợt đi, chợt về

nẻo vô thường, ôi tử sinh độc đạo

một vẫy tay không đợi

 

hôm nay cũng nơi này

nằm xuống

bụi tro xám tung bay trên cỏ

cũng chợt đi, chợt về

những cúi đầu và im lặng

đối diện chính ta và tha nhân

mấy cõi trầm luân da diết

một lời kinh hồi hướng

bạn trần ơi giã biệt

 

phủi sạch…

ra đi…

 

– thy an

(12.01.2023 rải tro Diệu Phước)

 

*

 

KIM LOAN

 

Trở về nhà ngày 30 Tết

 

Tôi khởi hành từ thành phố mùa đông

Bầu trời thấp, quê người giăng tuyết trắng

Bay về Việt Nam ngày ba mươi Tết

Căn nhà xưa ấm áp đợi tôi về

       

Tôi biết mẹ cũng thấp thỏm đợi chờ

Đứa con xa đã lâu chưa gặp mặt

Tôi bận rộn giữa vòng đời quay quắt

Kỷ niệm có khi là một giấc mơ

   

Mẹ đã chuẩn bị nấu bánh chưng chưa

Đợi tôi về đêm Ba Mươi nhóm lửa?

Góc bếp năm nào ngày tôi còn bé

Mắt long lanh như bếp lửa bập bùng

 

Đêm ba mươi Tết huyền diệu vô cùng

Nồi bánh sôi như lòng tôi rạo rực

Chợt tiếng pháo giao thừa về là lúc

Tôi thấy mình vừa mới lớn khôn hơn

 

Mẹ đã mua chưa những chậu hoa thơm?

Cành mai vàng trong căn phòng khách nhỏ

Tôi vẫn thấy mình đứng bên cửa sổ

Nhìn ra ngoài mơ mộng một trời Xuân

 

Chuyến bay miệt mài đi giữa màn đêm

Vượt đại dương mang theo hồn lữ thứ

Tạm biệt tuyết rơi, gió lạnh viễn xứ

Đứa con thân yêu đang trở về nhà

 

Nỗi vui mừng, vội vàng phố tôi qua

Hàng cây cũ nhìn tôi như chào đón

Những khuôn mặt quen, bạn bè, lối xóm

Tất cả là ba mươi Tết trong tôi

 

Đêm nay tôi sẽ thức, sẽ rong chơi

Về quá khứ tìm mùa Xuân đã mất

Tìm lại dư âm ngày Ba Mươi Tết

Đêm nay giao thừa tôi trẻ lại như xưa!

 

– Kim Loan

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.