còn lại là giấc mơ

11/02/202309:07:00(Xem: 2175)
Titania (1948) - Rene Magritte (1898-1967)
Titania (1948) của họa sĩ Rene Magritte (1898-1967).



buổi chiều trầm lắng trống trải

chiếc ghế mây nhẫn nhục không than vãn

con chim hồng âm thầm chuyền trên ngọn cây

người nhắm mắt thở nhẹ âm âm u u trên võng

điện thoại di động giật mình tằng hắng

cắt đứt giấc mơ xe đâm sầm vào quán ăn mễ

tứ phía không còn tacos và burritos tung hê

nhễu nhão với chili với sauce xanh và đỏ

 

giấc mơ rộn rã chưa có đoạn kết

nắng chiều lác đác ỉ ôi trong gió

màu sắc phút chốc trở lại xám tro dưới nền trời

cuối tháng giêng người ngáp tới ngáp lui chán nản thất vọng

 

và khi tháng hai chập chững đến

người vẫn còn đẩy đưa trên võng đợi chờ

mặt trời lên cao mời gọi giấc mơ ngọt ngào

ở trọ trong vô thức say cơn nắng nhẹ hay hay

 

và giấc mơ tai nạn xe hơi tiếp tục 

với liên khúc xe tông vào tiệm donuts  ̶ ̶ ̶ 

chết ngạt trong ba mươi mốt hương vị sắc màu

đa dạng cùng mùi cà phê thơm lựng như ý

 

này em dường như tất cả chỉ là nhiều phiên bản

của một giấc mơ  ̶ ̶ ̶  giấc mơ về những giấc mơ

âm ỉ bồn chồn vượt thoát theo những đám mây

đầu năm nổi trôi trên dòng nhớ bâng quơ

 

này em cho dù một ngày đẹp trời thơ có được

liên tu bất tận nhét vào miệng dí vào mũi thả vào tai

thơ chắc chắn không thể nào thoát ra qua lỗ rốn  ̶ ̶ ̶  

ngưng đọng trong mỗi người chúng ta là giấc mơ. 

 

(FEB 2023)

 

*


hôm nay rất vô tư 

 

ngôn ngữ rất vô tư

cơn đau thì trầm trọng

hả hê ngáng chân trí tuệ

vui đùa trên cái đau trực tuyến

muôn thuở rọ rạy dưới gầm giường  

 

hôm nay vẫn là một ngày đáng tin cậy

dù chỉ chạy bâng quơ lên xuống

tầng thứ hai mươi mốt cao ốc

văng vẳng âm vọng đờn ca tài tử  ̶ ̶ ̶ 

cao lầu không phải cao lầu

cao lầu không phải lầu cao

 

ới này ông sáu lầu  ̶ ̶ ̶  ông có nghe tiếng trống đêm

đã khuấy tan lớp sương mù u u lãng đãng 

trong ly cà phê đen đặc quánh

chút thương thảo để dành cho mai sau

lệ phí qua miền đồng khô tuyệt lộ

 

này em có hay

những giọt nước mắt ẩn danh

vẫn thơm ngọt mùi mạch nha

theo mạch đời tuôn chảy

 

này em có thấy

dưới vòm tóc tiên mượt mà

chữ nghĩa hôm nay rất vô tư

cơn điên thì rộng lượng. 

 

(JAN 2023)

 

– Quảng Tánh Trần Cầm

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.