Tình Ca Pablo Neruda

24/02/202300:00:00(Xem: 3200)


Pablo Neruda 3

 

Nơi Này Anh Yêu Em

 

Gió gỡ bóng tối rừng thông.

Sáng trăng lang bạt theo dòng lân tinh.

Suốt ngày đuổi bắt ái tình.

 

Sương mù nhảy múa bóng hình yêu đương.

Hải âu lạc cánh tây phương.

Cao, cao, ngọn nến dễ thường ngôi sao.

 

Màu đen chữ thập con tàu.

Cô đơn.

Dậy sớm ướt nhàu tâm linh.

Biển xa vang vọng sóng tình.

Bên bờ hải cảng

Một mình yêu em.

 

Chân trời che giấu tình em chỉ yêu vô vọng

từng đêm lạnh lùng.

Tàu nghĩa địa chở muôn trùng

nụ hôn vượt biển mông lung bến bờ.

Anh như neo cũ bơ vơ

Chiều thâm bến đậu buồn chờ lãng quên.

Đời anh thất thểu lềnh bềnh

Yêu điều hư ảo.

Lênh đênh chán chường.

Em xa, xa lắm, vẫn thương.

Để buồn vật lộn thất thường hoàng hôn.

Chờ đêm ru vỗ về hồn

Đồng hồ trăng biển bồn chồn giấc mơ

Mắt em sao sáng nghi ngờ

nhìn anh không hứa bao giờ gặp nhau.

Yêu em làm lá thông sầu

hát lên trong gió

về đâu?

đến đâu?

 

Đôi Bàn Chân Em

 

Khi không dám nhìn dung nhan

Tôi nhìn đắm đuối đôi bàn chân thương

cong cong yểu điệu xương xương

Đôi chân nho nhỏ dặm trường khổ qua

Cưu mang xuôi ngược gần xa

Xiêu xiêu thân ngọc phách ngà

bước đi

Chao ôi, eo vú thần kỳ

Rung rinh hạt núm lâm ly

hạt hồng

Thâu hồn đôi mắt

mơ mòng

Đôi môi nét rộng ngọt lòng hương hoa

Bím tóc đỏ

như tháp ngà

Tôi yêu chân nhỏ

vì qua

cõi đời

Vượt sông ngược gió

tìm tôi

 

Trôi Nổi Trong Chiều

 

Chiều nghiêng thả xuống lưới buồn

mơn mang ánh mắt đại dương vô tình.

nơi anh đốt lửa một mình

tay cô đơn đuối chìm tình chết trôi.

Gửi em tín hiệu tình ơi

Lơ là không thấy xa vời hải đăng.

Em mang bóng tối xa xăm

em nhìn gây sợ hãi ngầm trong anh.

 

Chiều nghiêng thả lưới buồn quanh

vây vùng biển mắt tròng trành sóng yêu.

Chim đêm mổ đám sao chiều

như hồn anh lấp lánh nhiều nhớ thương

như ngựa chạy rút dặm trường

Làm rơi bóng tối rụng đường hoa xanh.

 

Vắng.

 

Tưởng chừng không thể xa nhau

tình yêu tinh thể nhập vào thâm tâm

là run rẩy

là lo thầm

tự mình tình tự vết đâm, hay là …

đắm say tràn ngập đôi ta

mắt em trao tặng món quà nhân sinh

vẫn không ngăn được ái tình

yêu đương anh tận bình sinh làm người.

 

Em yêu,

đã tìm được tình

khát khô uống nước,

máu mình

khổ đau

yêu nhau như

đói

cắn nhau

như táp ngọn lửa phỏng sầu đôi ta.

 

Hãy chờ anh, hãy đợi anh

giữ tình anh mãi loanh quanh mặn nồng

Anh tặng em

một đóa hồng

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.