TRANG THƠ

28/06/202309:02:00(Xem: 3761)

ao-dai

TRẦN YÊN HÒA

 

Áo Nguyệt Rằm

Anh tự nhiên muốn đổi em tên khác
Là Nguyệt Rằm có được không em?
Tại vì ngày xưa em thường đi lễ
Chùa trang nghiêm em lặng lẽ bên thềm

Em cầu nguyện gì nhìn thành kính quá
Đôi mắt lim dim như ở nơi nào
Có Phật Quan Âm ngó em đó nhé
Không được một mình, nguyện ước xa xôi

Anh cũng đi chùa mỗi lần rằm tới
Để ngó em và cũng để nguyện cầu
Để nhìn áo vàng em về qua ngõ
Dáng nguyệt rằm có mặt nơi đâu?

Anh nguyện thế, mà nay em đi mất
Chùa vắng em trong tháng năm qua
Em bỏ bạn, bỏ chùa, bỏ nam mô Phật
Hay em đi về... với cõi phù hoa

Nên mỗi ngày rằm anh hay đến đây
Quỳ lạy Phật để thấy em thấp thoáng
Em trăng rằm lẫn bóng cỏ cây
Khắp cả mùa thu đông gió thoảng

Có ai đó mơ động hoa vàng
Còn anh chỉ còn em trong nỗi nhớ
Chỉ còn em trong tháng ngày xưa ấy
Nên đợi hoài dáng nguyệt rằm em

Em áo vàng giống như trăng thuở nọ
Áo vàng bay trong sân ngày Vu lan
Thuở (khắp những chùa em đều có mặt)
Còn anh thương mãi Áo Nguyệt Rằm...

 

Mùa thu tôi

 

Có phải mùa thu đã đến rồi em
Hàng hiên nhà bên nhuộm vàng hoa cúc
Nhưng hiên nhà anh vẫn mịt tăm
Có lẽ tại em không về được

Ơi! Mùa thu! mùa thu! năm ấy
Tháng chín... có phải mùa thu không?
Đến nay anh đã quên rồi đấy
Mình anh đìu hiu với thu phong

Xưa thu nhuộm vàng trên khắp phố
Phố và làng quê Việt Nam ta
Những chiếc lá vàng rơi đâu đó
Lá rơi vương đầy tóc em mà

Lá vàng bay bay trong gió lạnh
Cả một vùng nhuộm vàng hồn anh
Bây giờ thì tim anh ngất tạnh
Ngó mùa thu qua quả tim mình

Ơi! mùa thu tháng chín quê nhà
Của ngày nào sao mà xa lắc
Ơi! tìm đâu một nước non xa!
Anh chong mắt ngó thu bằn bặt

Anh đã xa đất nước lắm rồi
Xa cả em trong mùa thu đó
Nên mùa thu cũng chết mất thôi
Tất cả dấu xưa đà cất vó

Xin gởi mùa thu lời xin lỗi
Tháng chín qua sao quá âm thầm
Không còn vàng rưng màu hoa cúc
Không còn ngày xưa, một thanh âm


***

 

LÊ MINH HIN

 

Cời tình

 

Từ em

dòng nhựa trở mình

rậm rật

trong cõi người, ta

nảy mầm

xanh um

cuối mùa ảo tưởng

 

Từ em

dòng xung điện tế bào

cơn hồng thủy cuồng nộ

những rung động chực chờ phun trào

cơn khôn cùng khát khao

từ bên này bờ đại lục

anh

 

Rõ ràng hiện hữu

một dòng tinh thể sôi sục

những tế bào rạo rực

gập ghềnh trôi...

khe nhỏ hồng hoang

em

khỏa thân

nghê thường

 

Từ em

đêm đen

hồn trắng

miên trường không màu

nghe mộng mị

cúi đầu

những nụ hồng phấn

ta

vàng phai cuối chiều

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Việt Nam từ xưa theo nền văn minh nông nghiệp lúa nước, nên thời vụ của cây trái hoa lúa lập trình nhịp sống con người, từ nếp sống cho đến những tin tưởng tâm linh. Khi đồng lúa nghỉ ngơi, hoa đào hoa mai chớm nụ đầu mùa, người dâ n quay về tụ tập vui chơi ăn uống, từ đấy mà có một mỹ tục gọi là Tết (được phiên âm theo chữ Hán là Tiết, có nghĩa là đốt tre đốt trúc, nghĩa rộng là một đoạn thời gian trong năm), rơi vào lúc cuối một năm, thời điểm kết sổ và dấy lên niềm hy vọng cho năm mới. Gần đây có người đặt vấn đề có nên bỏ tục ăn Tết không. Tại sao vậy? Cây cỏ còn sửa mình để thay lá đơm hoa đón khí tiết đẹp của trời đất, can cớ chi con người phải bỏ niềm vui mừng đón năm mới với một mỹ tục đẹp đẽ là Ăn Tết? miễn là đừng Tháng Giêng là tháng ăn chơi (ca dao) thôi.
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ là một vị học giả uyên bác về Phật giáo, nguyên giáo sư của Đại học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, nhà văn, nhà thơ, dịch giả và là một người bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền và đã bị cầm tù trong nhiều năm. Năm 1998, Hòa Thượng được tổ chức Human Rights Watch tặng giải thưởng về nhân quyền Hellmann-Hamett Awards. Hòa Thượng là Xử lý Thường Vụ Viện Tăng Thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Hòa Thượng thông thạo tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Pali, tiếng Phạn và tiếng Nhật, đọc hiểu tiếng Đức. Hòa Thượng được giới học giả Việt Nam đánh giá cao vì đã công bố nhiều tiểu luận, chuyên khảo, thơ và nhiều công trình dịch thuật Phật giáo từ tiếng Phạn, tiếng Trung Hoa và tiếng Nhật, được coi là nhà sư uyên bác nhất của Phật giáo Việt Nam, đã soạn thảo quyển Bách Khoa Phật Học Đại Tự Điển.
Thông cao cuộn vỏ ngự hàn / quả khô chặt ruột vén quang nửa đồi / cõng lưng ngày thở trả hơi / em sang giúp nhóm mớ phơi củi già...
anh xin lại đôi bàn tay cầm bút / làm những bài thơ xuôi / rồi xuân hạ thu đông có mùa nào cho / mây bay về đầu xóm...
Gói bánh chưng | gói năm cùng tháng tận | gói khúc đời còn một đoạn nấu sôi | gói kỷ niệm già theo màu lá chuối | nóng bốc hơi mờ những khung hình | xôi chè ngũ quả.
mẹ tôi xưa, đất quán rường / chở che con, mộng bình thường ấu thơ / một thời tuổi trẻ, ngu ngơ / trong vòng tay mẹ, ù ơ ví dầu...
mời về, hồn cha mẹ | xoa dấu mực thâm | kể chuyện vầng trăng cùng hoa lài thơm ngát | mời về | người bạn bể dâu mang đi mất
Lời người dịch: Thế là người ta đã cấy chip vào não người, hẳn nhiều người sẽ đặt câu hỏi "chúng ta đang sống trong thế giới nào đây?" Có thể chúng ta chỉ là một trò game, hay một thí nghiệm, bị điều khiển bởi một thế lực nào đó. Có thể lắm chứ. Một lần nữa, Szymborska lại có những vần thơ tiên tri.
Đứng không hớp một chén mây | Nằm trong thiên cổ có hay ta về | Hỏi thăm cây cối nín khe | Một chòi gió đựng mấy the nắng sầu