TRANG THƠ

28/06/202309:02:00(Xem: 3662)

ao-dai

TRẦN YÊN HÒA

 

Áo Nguyệt Rằm

Anh tự nhiên muốn đổi em tên khác
Là Nguyệt Rằm có được không em?
Tại vì ngày xưa em thường đi lễ
Chùa trang nghiêm em lặng lẽ bên thềm

Em cầu nguyện gì nhìn thành kính quá
Đôi mắt lim dim như ở nơi nào
Có Phật Quan Âm ngó em đó nhé
Không được một mình, nguyện ước xa xôi

Anh cũng đi chùa mỗi lần rằm tới
Để ngó em và cũng để nguyện cầu
Để nhìn áo vàng em về qua ngõ
Dáng nguyệt rằm có mặt nơi đâu?

Anh nguyện thế, mà nay em đi mất
Chùa vắng em trong tháng năm qua
Em bỏ bạn, bỏ chùa, bỏ nam mô Phật
Hay em đi về... với cõi phù hoa

Nên mỗi ngày rằm anh hay đến đây
Quỳ lạy Phật để thấy em thấp thoáng
Em trăng rằm lẫn bóng cỏ cây
Khắp cả mùa thu đông gió thoảng

Có ai đó mơ động hoa vàng
Còn anh chỉ còn em trong nỗi nhớ
Chỉ còn em trong tháng ngày xưa ấy
Nên đợi hoài dáng nguyệt rằm em

Em áo vàng giống như trăng thuở nọ
Áo vàng bay trong sân ngày Vu lan
Thuở (khắp những chùa em đều có mặt)
Còn anh thương mãi Áo Nguyệt Rằm...

 

Mùa thu tôi

 

Có phải mùa thu đã đến rồi em
Hàng hiên nhà bên nhuộm vàng hoa cúc
Nhưng hiên nhà anh vẫn mịt tăm
Có lẽ tại em không về được

Ơi! Mùa thu! mùa thu! năm ấy
Tháng chín... có phải mùa thu không?
Đến nay anh đã quên rồi đấy
Mình anh đìu hiu với thu phong

Xưa thu nhuộm vàng trên khắp phố
Phố và làng quê Việt Nam ta
Những chiếc lá vàng rơi đâu đó
Lá rơi vương đầy tóc em mà

Lá vàng bay bay trong gió lạnh
Cả một vùng nhuộm vàng hồn anh
Bây giờ thì tim anh ngất tạnh
Ngó mùa thu qua quả tim mình

Ơi! mùa thu tháng chín quê nhà
Của ngày nào sao mà xa lắc
Ơi! tìm đâu một nước non xa!
Anh chong mắt ngó thu bằn bặt

Anh đã xa đất nước lắm rồi
Xa cả em trong mùa thu đó
Nên mùa thu cũng chết mất thôi
Tất cả dấu xưa đà cất vó

Xin gởi mùa thu lời xin lỗi
Tháng chín qua sao quá âm thầm
Không còn vàng rưng màu hoa cúc
Không còn ngày xưa, một thanh âm


***

 

LÊ MINH HIN

 

Cời tình

 

Từ em

dòng nhựa trở mình

rậm rật

trong cõi người, ta

nảy mầm

xanh um

cuối mùa ảo tưởng

 

Từ em

dòng xung điện tế bào

cơn hồng thủy cuồng nộ

những rung động chực chờ phun trào

cơn khôn cùng khát khao

từ bên này bờ đại lục

anh

 

Rõ ràng hiện hữu

một dòng tinh thể sôi sục

những tế bào rạo rực

gập ghềnh trôi...

khe nhỏ hồng hoang

em

khỏa thân

nghê thường

 

Từ em

đêm đen

hồn trắng

miên trường không màu

nghe mộng mị

cúi đầu

những nụ hồng phấn

ta

vàng phai cuối chiều

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác giả bài thơ này là nhà thơ Mỹ Dana Gioia trích trong cuốn Rebel Angels: 25 Poets of The New Formalism, nhà xuất bản Story Line Press, 1996. Tôi đặc biệt yêu thích bài thơ.
LỜI PHI LỘ-Tôi được đọc bài thơ này lần đầu tiên khi nó được phổ biến trên báo VĂN, nếu tôi không nhầm, vào những năm 80 của thế kỷ trước. Có điều đáng chú ý cuối bài thơ báo VĂN có ghi rõ Vô Danh, nghĩa là không rõ tác giả. Nhưng tôi tin rằng báo VĂN biết rõ tác giả nhưng không tiện nói ra vì tác giả vào thời khoảng ấy còn ở trong nước. Chỉ cần đọc bài thơ qua một lần, xuyên qua văn phong, ai cũng cảm nhận tác giả của bài thơ này là Thanh Tâm Tuyền.
Em nhìn qua bờ tóc bạc của anh đi / Như nhìn qua khung cửa sổ
Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Đen đúa. Sần sùi. Không đáng một xu / Dzụt gốc xoài. Quạ không thèm mổ / Quăng tận ổ. Kiến không thèm bu / Phơi giữa trại tù, cai tù không ngó
Loang loáng / chuông ngân / vong hồn những hạt bụi
Vũ Hán Những ngôi nhà cửa bị đóng đinh những cánh cổng bị bịt lại bằng những then gỗ hình chữ X người nhốt người trong đó không hề nghĩ họ sẽ sống thế nào nếu không còn thuốc nếu không còn thức ăn
Anh ở đâu ra vậy anh yêu / Hình như chúng ta từng gặp nhau
Biêng biếc làm sao chàng mây / vừa nhặt được màu xanh của ký ức
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nơi có núi Tản sông Đà. Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào Nghiêm, vốn là một đào hát, nổi tiếng tài sắc, giỏi văn thơ.