TRANG THƠ

06/07/202314:51:00(Xem: 3406)
Derkovits,_Gyula_-_Mother_(1934)
Mother (1934) của Gyula Derkovits (1894-1934).


QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

mẹ tôi trên xe thổ mộ

 

(Kính dâng hương hồn mẹ).

 

đã rất nhiều năm trong thế kỷ trước

đôi khi còn nghe âm vọng người và ngựa

lốc cốc trên đường

nắng chói chan nung thời gian chảy nhựa

 

gõ từng chữ từng câu

chầm chậm xuống hàng

ký ức chìm nổi của loài ba khía

chầm chậm xuống hang

thảng thốt nghe tiếng người và ngựa

 

giữa đất trời hanh hao

nằm ngửa lắng nghe tiếng lốc cốc trên đường

sau hàng cây xanh ngát

từng lớp sóng xôn xao nhả bọt

tựa những lời mẹ căn dặn buổi chia tay

 

quanh quất trên con lộ thưa vắng

mẹ tôi vẫn còn trên chiếc xe thổ mộ

đôi guốc mộc quai đen

hai bàn chân chai cứng

khuôn mặt màu da bánh ít in đậm nỗi buồn

 

đôi khi mẹ lau nước mắt bằng vạt áo vải thô

những giọt long lanh lăn trên má

quặn thắt trong nắng gió thờ ơ

từ hai hốc mắt sâu không đáy

u uất câm lặng triền miên

 

sáng nay mẹ ngồi bất động

như đã ngồi trong nhiều kiếp

trên chiếc xe thổ mộ

duy nhất

rong ruổi trên con lộ khắc khoải này. 

 

***

 

NGUYỄN HÀN CHUNG

 

Lời kêu cứu của thơ
     

Thả ra đừng bắt tôi lên

trời đâu không thấy chênh vênh lạnh lùng

thả tôi về với ruộng đồng

có mồ cha mẹ núi sông bưng biền

 

Thả ra hãy để tôi yên

ngắm trăng hải đảo nghía thuyền viễn dương

cho tôi ca hát phàm thường

bắt tôi phải đạo đau thương bao rồi

 

Thả tôi thả tôi thả tôi

lên hay xuống đứng hay ngồi tự thân

thích thì phụng hiến giai nhân

vẫn hơn ca tụng cái cần triệt linh

 

Thả ra đừng bắt chúng sinh

rác tai nghe những bài tình giả nhơn

thả tôi về với rạ rơm

cho tôi tận hưởng mùi thơm suối nguồn!

Thả ra tôi có vĩ cuồng
hay thơ ca có trần truồng, mặc tôi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
LỜI PHI LỘ-Tôi được đọc bài thơ này lần đầu tiên khi nó được phổ biến trên báo VĂN, nếu tôi không nhầm, vào những năm 80 của thế kỷ trước. Có điều đáng chú ý cuối bài thơ báo VĂN có ghi rõ Vô Danh, nghĩa là không rõ tác giả. Nhưng tôi tin rằng báo VĂN biết rõ tác giả nhưng không tiện nói ra vì tác giả vào thời khoảng ấy còn ở trong nước. Chỉ cần đọc bài thơ qua một lần, xuyên qua văn phong, ai cũng cảm nhận tác giả của bài thơ này là Thanh Tâm Tuyền.
Em nhìn qua bờ tóc bạc của anh đi / Như nhìn qua khung cửa sổ
Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Đen đúa. Sần sùi. Không đáng một xu / Dzụt gốc xoài. Quạ không thèm mổ / Quăng tận ổ. Kiến không thèm bu / Phơi giữa trại tù, cai tù không ngó
Loang loáng / chuông ngân / vong hồn những hạt bụi
Vũ Hán Những ngôi nhà cửa bị đóng đinh những cánh cổng bị bịt lại bằng những then gỗ hình chữ X người nhốt người trong đó không hề nghĩ họ sẽ sống thế nào nếu không còn thuốc nếu không còn thức ăn
Anh ở đâu ra vậy anh yêu / Hình như chúng ta từng gặp nhau
Biêng biếc làm sao chàng mây / vừa nhặt được màu xanh của ký ức
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nơi có núi Tản sông Đà. Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào Nghiêm, vốn là một đào hát, nổi tiếng tài sắc, giỏi văn thơ.
tôi phải trở lại những ý tưởng lần thứ hai / khi mưa mặc áo choàng xám đi quanh lâu đài
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.