Thơ Trần Mộng Tú

14/10/202308:48:00(Xem: 3354)

Fruit-on-a-Mature-Apple-Tree

Táo đỏ

                  

Em đi trong vườn táo

tháng mười mưa phùn rơi

những nhánh táo mầu đỏ

treo chùm quả mặt trời

 

tháng mười mưa rất nhỏ

táo rơi dưới gốc cây

như những quả cầu lửa

lăn dưới gót chân ai

 

tháng mười mùa táo rụng

thơm phủ mặt đất nâu

mùa thu và táo đỏ

đang thì thầm hỏi nhau

 

táo đỏ trước mùa thu

hay mùa thu đỏ trước

 

em đứng giữa đất trời

nghe hơi mùa thu thở

nhặt một quả táo lên

trái tim em nhuộm đỏ

 

em đi trong vườn táo

dưới cơn mưa tháng mười

hỏi anh nơi xa đó

có biết thu vừa rơi

 

thu mang cả vườn táo

theo tháng mười đi xa

có trái táo rất đỏ

lăn giữa cuộc tình ta.

 

*

 

thu trở mình

 

Mưa trở mình mang đến gió thu

hàng cây trở mình thay mầu lá

trời trở mình trên cả dáng mây

em vuốt mặt nghe hồn rất lạ

 

đỉnh dốc cao hai bàn chân mỏi

giơ tay che dõi dấu mặt trời

mặt trời lăn nhanh xuống con dốc

em tìm mình trong sương chơi vơi

 

quê xưa có phải bên kia núi

nhà xưa hình như bên kia đồi

tiếng chim đập cánh bay qua vực

em một mình nghe buổi chiều rơi

 

một đốm quê hương nhòa trong mắt

một đốm thu sang đỏ ráng chiều

gửi đời du mục trong cây cỏ

em ngậm ngùi ngay cả dấu yêu

 

hình như thế giới đã đi ngủ

gõ cửa nhân gian sao lặng thinh

chẳng mở được gì ngoài cánh gió

em biết mùa thu vây quanh mình

 

bước xuống dốc buổi chiều chập choạng

hai vai gầy nghe lạnh sương mù

thân mỏng mảnh không tìm ra bóng

em một mình lên tiếng gọi thu.

 

– Trần Mộng Tú

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.