Mềm Thơ Mùa Thu

20/11/202410:12:00(Xem: 1858)
Mùa Thu 1 Dung Phuong
Ảnh: VIệt Báo, Dung Phương

 

rủ nhau về mùa gió chướng

những đốm lá đỏ xanh

gọi em

khung đời lung lạc

gặp nhau định mệnh tỏ bày

phút giây suy tư

nỗi buồn ô chữ

tô sắc tấm lòng tha thứ

 

rồi về đây lặng lẽ

khởi thủy là tiếng nói

đi qua sông biển núi đồi

con tàu xanh chìm sâu trong mắt

vẫn hoang vu chòm lá

một thời choáng ngợp hồn ta

 

mềm thơ tóc trắng hiếm hoi

nỗi khát khao thắp lửa một lần

con thiêu thân thật nhỏ

lao vào ánh sáng

hối tiếc ngực trầm môi mọng 

hội chợ phù hoa ca hát không thôi

 

thổi suốt bên lòng bao nhiêu năm tháng

có tiếng ai đi về rất vội

gửi gắm mùa thu đầu tay

ngày trở lại buồn buồn ẩn ngữ

lòng đầy uẩn khúc không nói hết

từng giọt mưa rơi thấm vai

 

thy an

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
LỜI PHI LỘ-Tôi được đọc bài thơ này lần đầu tiên khi nó được phổ biến trên báo VĂN, nếu tôi không nhầm, vào những năm 80 của thế kỷ trước. Có điều đáng chú ý cuối bài thơ báo VĂN có ghi rõ Vô Danh, nghĩa là không rõ tác giả. Nhưng tôi tin rằng báo VĂN biết rõ tác giả nhưng không tiện nói ra vì tác giả vào thời khoảng ấy còn ở trong nước. Chỉ cần đọc bài thơ qua một lần, xuyên qua văn phong, ai cũng cảm nhận tác giả của bài thơ này là Thanh Tâm Tuyền.
Em nhìn qua bờ tóc bạc của anh đi / Như nhìn qua khung cửa sổ
Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Đen đúa. Sần sùi. Không đáng một xu / Dzụt gốc xoài. Quạ không thèm mổ / Quăng tận ổ. Kiến không thèm bu / Phơi giữa trại tù, cai tù không ngó
Loang loáng / chuông ngân / vong hồn những hạt bụi
Vũ Hán Những ngôi nhà cửa bị đóng đinh những cánh cổng bị bịt lại bằng những then gỗ hình chữ X người nhốt người trong đó không hề nghĩ họ sẽ sống thế nào nếu không còn thuốc nếu không còn thức ăn
Anh ở đâu ra vậy anh yêu / Hình như chúng ta từng gặp nhau
Biêng biếc làm sao chàng mây / vừa nhặt được màu xanh của ký ức
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nơi có núi Tản sông Đà. Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào Nghiêm, vốn là một đào hát, nổi tiếng tài sắc, giỏi văn thơ.
tôi phải trở lại những ý tưởng lần thứ hai / khi mưa mặc áo choàng xám đi quanh lâu đài