Tóc Rơi Tờ Lịch Cũ

06/04/202519:51:00(Xem: 3211)

tờ lịch

 

Sớm đó, cha xé tờ lịch, biết hôm qua vừa hết.
Chưa biết đời mỏi mệt khi hồn treo cổ nhìn qua song tù.

Tờ lịch xé để trên đầu tủ, cơn gió thổi qua, bay lên la đà diễn nghĩa Xuân Thu.

Từ đó, tờ đó, ngày đó không bao giờ trở lại.

Tờ lịch cũ đáng giá bao nhiêu?

Sao lòng quay quắt giai điệu bùi ngùi. Nhiều mất mát trên mặt tờ giấy nhỏ. 

Không có lịch, có lẽ, ít ai nhớ. Hoặc nhớ không rõ, những chuyện buồn do đó mơ hồ.

Cha mất con, bốn đứa trai đi lính ra thẳng mộ.

Một gái lấy chồng số khổ mất chồng.

Thành phố chiến tranh không lãng mạn như tiểu thuyết “Một thời để yêu…” nhưng chắc chắn đúng “Một đời để chết.”

Người trong chiến tranh, bầy thú bất hạnh điên cuồng giữa núi rừng động đất, đang mất trí giết nhau trong bất tận thảm sầu.

Một tờ lịch tầm thường để mỗi ngày mỗi xé. Một con người tầm thường để mỗi ngày mỗi sống. Dính líu nhau như sợi tóc rơi.

Ai biết được ngày nào trong đời cần giữ lại sợi tóc?

Sớm đó, cha xé tờ lịch nào biết nghe nó khóc, mất một ngày nhỏ mọn rồi mất luôn những to tát mai sau, để tiếp tục héo đau mất ngủ.

Sớm đó, cha xé tờ lịch cũ, xé luôn thịt xương, đứt máu mủ yêu thương, mẹ từ đó ủ rủ, cha từ đó trong tù treo cổ những niềm vui.

Quá khứ xum vầy hạnh phúc con mắt đui tìm ánh sáng.

Mỗi năm, ngày này, tờ lịch mới chịu tang tờ lịch cũ.

Rồi xé bay vèo 30 tháng 4,

Từ da thịt rụng thêm một sợi tóc.

                                                         
Ngu Yên

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vũ Hán Những ngôi nhà cửa bị đóng đinh những cánh cổng bị bịt lại bằng những then gỗ hình chữ X người nhốt người trong đó không hề nghĩ họ sẽ sống thế nào nếu không còn thuốc nếu không còn thức ăn
Anh ở đâu ra vậy anh yêu / Hình như chúng ta từng gặp nhau
Biêng biếc làm sao chàng mây / vừa nhặt được màu xanh của ký ức
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nơi có núi Tản sông Đà. Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào Nghiêm, vốn là một đào hát, nổi tiếng tài sắc, giỏi văn thơ.
tôi phải trở lại những ý tưởng lần thứ hai / khi mưa mặc áo choàng xám đi quanh lâu đài
Rừng ngưng thở / thức / chíu chít tiếng chim
Lửa ! Lửa ! Lửa ! / khắp nơi, biết chạy về đâu
Núi chiều nay đã quay về chờ đợi. Còn gì đâu những hò hẹn trong đời.
Làm sao quên / mỗi chiều / Venice lóng lánh tà dương
Chiều ấy rất nhiều gió Đàn chim nhớ phố bay về(1)