Hôm nay,  

Thơ Hồ Thành Đức

18/03/202514:29:00(Xem: 2992)

 ho thanh duc

Lời thưa!

Nhận được Tin Buồn: Họa Sĩ Hồ Thành Đức vừa mất tại Thị Trấn Giữa Đàng (Midway City), lúc 6:30 am, CA, ngày 17-3-2025.

Hưởng Thọ 85 tuổi.

Để tưởng nhớ về ông tôi xin gởi đăng lại bài này, viết về thơ Hồ Thành Đức.

Xin Thành Kính Chia Buồn cùng gia đình.

 

*
Thơ Hồ Thành Đức

 

Khi viết về Hồ Thành Đức, ai cũng sẽ nghĩ tôi sẽ viết về một họa sĩ, trong hành trình gần năm mươi năm ông sống và vẽ. Vẽ, đó là cuộc đời ông, gắn liền với nữ họa sĩ Bé Ký, người vợ hiền của ông.

Dĩ nhiên khi nhắc đến Hồ Thành Đức, là phải nhắc đến những công trình hội họa.

Họa sĩ Hồ Thành Đức sinh năm 1940 tại Đà Nẵng, Quảng Nam. Ông tốt nghiệp Cao Đẳng Quốc Gia Mỹ Thuật Sài Gòn, sáng lập viên của Hội Họa sĩ Trẻ Việt Nam (1968-1975), Giáo sư hội họa Viện Đại Học Vạn Hạnh (1969-1975), Khoa trưởng ngành Họa Thực Tiễn tại Đại Học Phương Nam (1974-1975).

Ông đã có rất nhiều cuộc triển lãm trong và ngoài nước. Tranh của ông cũng có mặt tại nhiều viện bảo tàng danh tiếng trên thế giới trong đó phải kể đến Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Smithsonian tại thủ đô Washington. Tranh của ông được đánh giá cao bởi nhiều cây bút phê bình hội họa trong và ngoài nước.


Một sự kiện đáng chú ý nhất của hội họa Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là việc thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam tại Sài Gòn vào năm 1968. Một nhóm họa sĩ ưu tú tại Miền Nam lúc đó có người đã ra trường, có người còn theo học tại Trường Mỹ Thuật Gia Định, đã tập hợp nhau lại thành lập một hội nghề nghiệp mang tên là Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam. Những khuôn mặt tài năng như: Nguyễn Trung, Rừng, Mai Chửng, Nguyên Khai, Vy Cao Uyên, Hồ Hữu Thủ, Đỗ Quang Em, Đinh Cường, Nghiêu Đề, Hồ Thành Đức... đều là thành viên đầu tiên của tổ chức này.  

Về tranh của Hồ Thành Đức, theo Mặc Lâm trong một bài phỏng vấn trên đài Á Châu Tự Do có nhận xét như sau: “Hồ Thành Đức cũng tỏ ra khá nhạy bén trong những đề tài mà ông khai thác. Từ mùa xuân của những sắc áo tươi trong da thịt, ông nhẹ nhàng tiến vào những thao thức thân phận ngàn năm của người nghệ sĩ và những dấu hỏi lớn không phai được ông phác thảo trên nền canvas qua hình ảnh của đá, của thiên nhiên, của ánh sáng, hoặc của khung xương cơ thể con người hay thần vật.”

Và công trình hội họa và thơ của Hồ Thành Đức được ông đúc kết như sau:

“Rồi đến hôm nay thì tôi đã làm được 327 bức tranh, và tôi làm được 104 bài thơ kèm theo. Tất cả những cái đó là sự thật của tôi, là mỗi bức tranh của tôi là có một lý lịch của nó. Tôi vẽ tranh, bán ở chỗ nào, tôi để ở đâu, ai mua, tôi đều ghi lại hết.”

Giải Thưởng:

1963 Huy Chương hạng nhất/l Mùa Xuân

1964. Phần thưởng danh dự triển lãm Công Giáo Quốc Tế.

Triển lãm nhiều lần chung và riêng tại Mỹ và các nước khác.

 

*

Hồ Thành Đức nhắc đến Thơ, nên hôm nay tôi có bài này viết về thơ ông.

Trước đây, và ngay bây giờ, Hồ Thành Đức luôn luôn là thành viên quen thuộc tại cà phê Factory mỗi thứ bảy, chủ nhật. Nhà ông ở từ đường Bolsa và Newland, ông không lái xe được nhưng ông là người thích bạn bè, bù khú với nhau bên ly cà phê buổi sáng, nên sáng thứ bảy, chủ nhật nào, nếu ông không có bạn bè đến đón, thì ông cũng đón xe buýt để đi uống cà phê. Nhờ những lần uống cà phê như thế này, nhóm anh em văn nghệ hay ngồi với nhau nói chuyện trên trời dưới đất, tôi mới biết đến ông, dù trước đó danh tiếng của Hồ Thành Đức và Bé Ký đã nổi, có thể nói, nhiều người biết đến rồi. Hồ Thành Đức, dù xa Quảng Nam Đà Nẵng lâu ngày, nhưng ông vẫn mang sắc thái Quảng Nam, con người Quảng Nam, giọng nói Quảng Nam. Điều này tôi rất yêu thích.

Khi tôi còn phụ trách tờ Đặc San Quảng Nam (những năm 2000-2003), mỗi dịp Tết thực hiện một số để kỷ niệm của Hội Đồng Hương Quảng Nam, Hồ Thành Đức lúc nào cũng sốt sắng đóng góp bài vở, ông không có cái kiêu hãnh (nói theo danh từ thời thượng là “chảnh”) của người đã nổi tiếng, là người đã thành danh - thành công về hội họa.

Sau đây là bài thơ tôi đọc đầu tiên của Hồ Thành Đức và là một bài thơ hay. (Ghi chú: bài thơ đầu tiên tôi đã đọc của Hồ Thành Đức chứ không phải bài thơ Hồ Thành Đức làm đầu tiên):

 

MÁU CHẢY VỀ TIM

 

Cứ ngỡ em về trong giấc mơ

Vàng son buổi trước lỗi câu thề

Ai đem khăn trắng treo đồi tím

Cây nhớ nhung buồn hoa nhớ hương

Trời khoanh một mảnh tình tan vỡ

Đất cũng cúi đầu rỉ vết thương

Ta biết! Rồi đây em sẽ thấu

Mối tình ngang trái đóng vào đinh

Giọt máu nào trên cây Thánh Giá

Nhỏ vào đời thấm nỗi oan khiên

Ta như chim bay hoài thấm mệt

Bỏ giáo đường mòn mỏi đức tin

Em, như giòng sông trôi chảy mãi

Rã cuộc tình gãy cánh uyên ương!

Từ buổi đó có cây nến lạ

Thắp giữa trời mười ngón đau thương

Từ buổi đó ta đi em ở lại!

Núi sông buồn cây cỏ hoang vu

Ta ở đây đất khách quê người

Nghe chim hót đau từng khúc ruột

Nghe kinh khuya thở cuộc đời buồn

Ước gì có cánh tay nghìn dặm

Níu tình em qua Thái Bình Dương

Ta cũng muốn trải dài cơn mộng

Để lỗi lầm về với ăn năn

Để trăng khuya trở lại đêm rằm

Để sáng dậy nghe chim ca hót

Để tình anh gặp lại đời em!

Xin hãy nhổ cây đinh oan trái

Giọt máu nào không chảy về tim.

HỒ THÀNH ĐỨC

 

(Trích trong tập tranh và thơ: "Ngựa Trắng Đi Khuya")

 

Hồ Thành Đức, dù Thơ ông không bằng tranh vẽ của ông, nhưng cũng khá hay như bài thơ trên.

Ngồi với Hồ Thành Đức, nghe ông nói, cũng là một niềm vui (nhưng cũng có người bực mình) vì ông nói rất sa đà… về ông, về Bé Ký, hay những hiểu biết thơ văn của ông với các tác giả khác. Ông nói thao thao bất tuyệt, có những giai thoại rất hay về các tác giả khác mà ông biết như về Bùi Giáng, về Nguyễn Đức Sơn. Ông mê thơ Bùi Giáng nên ông thuộc thơ nhiều của Bùi Giáng. Hồ Thành Đức có một trí nhớ rất tốt là thuộc nhiều thơ của các tác giả mà ông thích và ông kể chuyện Quảng Nam, cũng là một đề tài hấp dẫn. 

Trong thời gian gần đây, Hồ Thành Đức nói có thực hiện một tuyển tập lấy tên là Ngựa Trắng Đi Khuya, ông bỏ công hàng năm trời để “thực hiện cho bạn bè văn nghệ” tập này. Mỗi bạn văn nghệ, nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, ông lấy một số đoạn thơ hay, hay một lời nhạc hay, rồi ghép với tranh ông, để thành tuyển tập. Sau khi thực hiện xong, ông muốn in tập này trong nước, nhưng vì qua kiểm duyệt, tác phẩm không được cho in, ông bèn phải bỏ dỡ dang công trình này, thật đáng tiếc. Nhắc về công trình này của Hồ Thành Đức, nhà thơ Luân Hoán ghi lại như sau:

“Tác phẩm của Đức là những bản chụp tranh màu của anh được đi kèm với vài câu thơ, vài dòng nhạc, dòng văn của bạn bè. Dĩ nhiên toàn  những anh chị đã thành danh lâu ngày với cuộc đời văn học, nghệ thuật. Tôi được Hồ Thành Đức dành cho 2 trang. Sách sẽ được in trên giấy tuyệt hảo nhất, do một nhà xuất bản uy tín ở quốc nội ấn hành ngay sau khi Đức hoàn tất. Tôi chia sẻ niềm vui cùng Đức và cũng như anh, tôi mong mỏi những tác phẩm có giá trị chóng được ra mắt bạn đọc. Đức cũng không quên kể với tôi sự thành công về tài chánh từ một họa phẩm anh bán được gần đây. Mừng cho bạn nhưng tôi chợt cảm thấy băn khoăn, vì những mẩu chuyện ấy, anh thỉnh thoảng nhắc lại, kể lại như mới nói lần đầu tiên. Sự chợt quên chợt nhớ hình như đã đến với Đức. Nhà thơ Đặng Hiền thì nói nhỏ với tôi về sự ảo tưởng của Đức. Ảo tưởng cũng là một điều thú vị, nhiều khi chúng ta cũng nên cần nó chút đỉnh.” 

Tôi không hiểu trong đoạn văn này, Luân Hoán viết về chuyện Đặng Hiền nói “Hồ Thành Đức “ảo tưởng”, là ảo tưởng gì? Tôi nghĩ câu nói này ngụ ý là Hồ Thành Đức nói không thực, vẽ vời về mình? Sự thực chuyện đó có, nhưng vô hại, đó là do tính người “(nói) cho vui thôi mà”. Bùi Giáng thường nói vậy

Trong công trình tác phẩm Ngựa Trắng Đi Khuya của Hồ Thành Đức, tôi cũng được Hồ Thành Đức chiếu cố cho một trang, với bức tranh Đá Đam Mê của ông và 2 đoạn thơ trong bài thơ Uyên Ương của tôi:

 

Em hương nhụy hồng hoa ta hãy hái

Chùm môi thơm từng cánh rã trên tay

Lòng hoang tưởng mùa thu em thức dậy

Bàn tay mềm cho tình ái mê say

 

Ta hát khúc uyên ương trên đồi cọ

Giữa mùa thu trùng điệp ánh sao rừng

Lòng đã mở tan hoang bài ca cũ

Khúc tình tang trùng khuất giữa mùa xuân

 

*

Cuộc Tình của Vợ Chồng Hồ Thành Đức, Bé Ký      
                  
 

Về cuộc tình của Hồ Thành Đức và Bé Ký, theo Luân Hoán kể lại cũng rất thú vị, xin ghi lại sau đây:
     

“Trong tất cả những cuộc triển lãm, Hồ Thành Đức đều thu lượm được nhiều kết quả khả quan về tinh thần cũng như tài chánh. Nhưng đáng kể hơn hết là cuộc bày tranh lần đầu tiên. Lần đó, anh có thu hoạch bất ngờ và quá tuyệt vời.

Hồ Thành Đức kể lại, vào một giờ vắng khách, anh đang lai rai dạo quanh phòng tranh, ngắm lại những tác phẩm của mình đang hít thở trên các mặt tường. Anh muốn chia sẻ với chúng những hồi hộp chờ đợi, những băn khoăn, nghi ngại, chợt anh thấy từ cửa phòng tranh xuất hiện một cô gái tóc kẹp, thả dài xuống lưng. Anh bất ngờ giật mình, nhưng làm tỉnh được ngay. Cô gái đã dừng trước họa phẩm thứ nhất, im lặng ngắm. Ánh nắng chiều của Sài Gòn hình như đang dịu lại. Những tiếng ồn ào của một thành phố sinh động cũng chừng như lắng xuống. Hồ Thành Đức tưởng chừng những tiếng bước thật khẽ của cô gái là những âm thanh hiện hữu duy nhất trong phòng tranh giàu linh hồn của anh... Đức thật tình không muốn rình rập người khách đặc biệt mà anh đã biết rõ là ai. Nhưng lòng anh cứ thắc thỏm. Và sự chờ đợi như được sắp xếp từ tiền định đã đến.

- Chào ông, phòng tranh có vẻ vắng quá.


Đức chợt tìm thấy ngay cái mau miệng lém lỉnh của mình:

- Không đâu thưa cô, có lẽ giờ này chưa được thuận tiện.

Anh cười dù cỏ vẻ hơi phật lòng. Cô gái không mỉm cười trả lễ, nhưng không lạnh lùng, cô nhìn quanh phòng tranh. Đức cũng đưa mắt theo chiều quan sát của người khách. Bình hoa màu vàng óng, đang ánh lên những tảng nắng ghé thăm. Chiếc khăn trải bàn trắng nõn. Đức thấy cây bút nằm hờ hững trên lòng tập đựng chữ ký lưu niệm. Anh đang định mời cô gái, thì bất ngờ nghe tiếng hỏi:

- Anh có biết tôi là ai không?

Chừng nửa giây ngập ngừng, Đức đáp chững chạc, tự nhiên;

- Thưa rất làm tiếc, xin lỗi cô là ai.

Không lưỡng lự, cô gái, giới thiệu mình:

- Tôi là Bé Ký

- A, thế ra cô là những họa sĩ của hè phố

Lẽ ra Đức phải có cái nụ cười tinh nghịch, châm chọc như thói quen. Nhưng không hiểu sao, lòng anh thấy yên ả, bình thản và có cái gì như ấm áp đang vây bọc lấy anh.

- Hôm nay cô không ra Lê Lợi, Catinat...?

- Không, mấy hôm nay tôi không ở Sài Gòn. Tôi vừa từ Ban Mê Thuột về đây, cốt yếu xem phòng tranh của anh.        

Đức lượm được cái cảm động thật tình thứ nhất. Anh mơ hồ thấy sự bềnh bồng của hồn vía mình. Tảng nắng chiều đang ngả sang màu vàng nhạt, mở ra cho hai người họa sĩ một khoảng không khí tươi mát vừa đủ để nói chuyện đời.

Hoá ra chặng đời làm con nuôi của Bé Ký không được bằng phẳng dễ đi. Chị đã chịu đựng khá nhiều vất vả cũng như tủi nhục. Không chọn lựa sự giàu sang, nhưng "vừa ăn vừa khóc như mưa tháng mười" vẫn từng xảy ra.  Chị đã mở hết một khoảng đời mình để cho người bạn họa sĩ vừa mới quen nhìn vào. Không hiểu vì sao họ chóng đọc được lòng nhau mau như vậy. Đức quên cô tình nhân đang có. Anh đưa người nữ họa sĩ của thủ đô Việt Nam Cộng Hòa về nhà. Và chẳng bao lâu sau. Anh chị cho bạn bè một bữa tiệc thân mật. Ngày cưới của Hồ Thành Đức, Bé Ký gần như không có họ hàng, bà con của cả hai bên. Họ sống chân tình với bằng hữu, nên trong ngày vui thật vô cùng đông đảo. Cánh bạn đồng hương Quảng Nam, cánh bạn họa sĩ, cánh bạn làm văn thơ, viết báo. Có cả những viên chức rủng rảng chức vụ, quyền uy. Ngày vui đó nằm trong năm 1965.”

*

Viết về thơ của Hồ Thành Đức tôi xin nói thêm, ông là người rất có tình với quê hương Việt Nam, nên khi ở quê nhà bị bão lụt, ông đã có bài thơ với tâm tình sâu nặng, sau đây:

 

Bão Lụt Lòng Ta

 

Thấy một người khăn sô trên báo Việt

Nơi đàn con chiu chít chỗ chia lìa

Chiếc quan tài người cha chưa tẩm liệm

Giữa khung trời bão lụt ở Thừa Thiên!

Nghìn cánh tay, vạn con mắt ưu phiền

Đang ngụp lặn trong bão bùng mưa thét

Đang chơi vơi hãi hùng trong gió rét

Một màu tang quấn chặt chốn quê nhà

Nhìn hung ảnh kia ta bỗng khóc òa

Như lúc bé hồi cha vừa mới mất!

Ta đinh ninh quê hương là có thật

Nên ruột rà khúc rốn vẫn chung nhau

Nên âm dương chia cắt vẫn một trời

Tình nghĩa ấy thấm ngầm trong tim phổi

Của loài chim bay, của con thú dữ

Biết ngậm ngùi khi đồng bọn đớn đau!

Chia cơm xẻ áo, nối lại nhịp cầu

Trong khổ ải mới tìm ra chân lý

Ai che mặt trời! Ai người ích kỷ

Thì hôm nay đốt lửa sưởi bàn tay!

Tình quê hương nhen nhúm những vơi đầy

Thâu góp lửa cho mặt trời ấm lại

Cho chim bay cho thuyền ra cửa ải

Người nối người lấp cạn hố thiên tai!

Để đêm đêm vơi bớt tiếng thở dài

Của đàn trẻ hôm qua vừa mất bố

Trăm vạn oan hồn, trôi sông lạc chợ

Chút hương đèn trở lại chốn dương gian!

Mẹ em ta còn chút nắng ngỡ ngàng

Sưởi ấm nốt những tháng ngày đau khổ

Của thiên tai, lửa bom và cơm áo

Chất chồn lên, cao ngút đỉnh Trường Sơn!

Mẹ ở Cali mẹ ở Sài Gòn

Nghe tin sét, lòng buồn không tả nổi!

Con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ

Áo cơm nhau, chia sẻ chút tình người.

 

Thơ Hồ Thành Đức tuy không được nhắc đến nhiều như nét vẽ của ông, nhưng cũng làm người người đọc cảm động.

 

 Trần Yên Hòa

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi nói về nền âm nhạc Việt Nam thời hiện đại, không thể không nhắc đến nhạc sĩ Phạm Duy. Đã có quá nhiều mỹ từ mà giới yêu nhạc Việt Nam sử dụng khi nói về ông: người nhạc sĩ của thế kỷ, phù thủy âm nhạc, cây đại thụ của ca khúc Việt Nam… Cũng vì thế, viết và nói về nhạc sĩ Phạm Duy là một điều khó, vì đã có quá nhiều người phân tích từ đủ mọi góc cạnh. Từ những nhà phê bình âm nhạc, cho đến bạn bè của ông là những văn nghệ sĩ, hay những người mến mộ. Họ viết về cuộc đời nổi trôi theo vận nước Việt Nam của Phạm Duy, về giai điệu và ca từ Phạm Duy, về khả năng sáng tác bền bỉ của người nhạc sĩ thiên tài…
Viết về nhạc Phạm Duy mà không nói tới tiếng hát của ca sĩ Thái Thanh là một thiếu sót không nhỏ. Như ta bước hụt một nấc thang. Tiếng hát của ca sĩ là chỉnh lại thăng bằng giữa nhạc và lời, khi niềm tĩnh lặng cần thiết một biến đổi. Những lặng yên nốt nhạc của nhạc sĩ trên mặt giấy, bỗng rảo bước đi, qua lời ca sĩ. Nhạc của Phạm Duy là nhiên liệu. Thái Thanh đốt lên thành ngọn. Ngọn rực rỡ bình minh. Ngọn hắt hiu của cây đèn lạp đêm khuya. Lửa ấy, lời ca ấy, không chỉ để ta nghe, thổ lộ những tâm tình, mà, còn để ta Nhìn, những bức minh họa. Cánh diều, con đê, bên ánh đèn mẹ ngồi khâu áo, đèo núi cao đoàn quân đi qua, bờ nước rộng con thuyền lên đường viễn xứ, chiều làng quê anh thương binh trở lại, và nắng tươi màu, áo ai phận mỏng, và thế gian giao mùa chinh chiến, và âm dương trở mình trong tiếng chày kinh. Cõi nhân ảnh mờ mờ, ảo ảo, hay tục lụy rõ soi ấy, một kiếp đời, ai cũng từng trải.
Tin nhạc sĩ Đan Thọ tác giả nhạc phẩm Chiều Tím qua đời ngày 4-9-2023, tại Texas, Hoa Kỳ, hưởng thọ 99 tuổi, gợi nhớ kỷ niệm ca nhạc thời niên thiếu của tôi ở quê nhà...
Nhạc sĩ Đan Thọ qua đời ngày 4 tháng Chín năm 2023, thành phố Houston, Texas, hưởng đại thọ 99 tuổi. An giấc nghìn thu ngày 18 tháng Chín, tại Nhà Quàn Vĩnh Cửu (Chapel of Eternal Peace at Forest Park), Houston, Texas. Với tuổi ta, nhạc sĩ được bách niên (100 tuổi) tuổi hạc đại thượng thọ trên cõi trần...
Vào giữa thập niên 1980s, phổ biến trong nước Triệu Đóa Hoa Hồng, tuy là bản nhạc trữ tình với mối tình dang dở nhưng lời Việt, nhạc Liên Xô nên tôi bị “dị ứng” nên chẳng để ý, dù sau nầy với ca sĩ hải ngoại…
Chúng ta không biết phải dịch chữ “immersive art” như thế nào. Khái niệm này chỉ mới xuất hiện vài năm nay, mặc dù đã xuất hiện, phần nào, trong các loại hình nghệ thuật khác, từ cả nhiều thế kỷ trước. Hình như triển lãm “immersive art” lần đầu tiên ở Los Angeles và Las Vegas là đầu năm 2022, với tranh Van Gogh. Phòng triển lảm sử dụng hình ảnh, âm thanh, không gian, sự chuyển động của màu sắc để làm cho bạn, người khán giả, trở thành một người đang tắm gội trong không gian nghệ thuật của họa sĩ Van Gogh (1853-1890). Tại sao chọn Van Gogh để triển lãm đầu tiên cũng chưa rõ, có lẽ vì tranh họa sĩ này sống động, dữ dội hơn nhiều họa sĩ khác, hấp dẫn hơn với dân Nam California. Có thể dịch chữ “immersive art” là hội họa “trải nghiệm hòa nhập” hay “trải nghiệm nhập vai” – bởi vì, khán giả tự thấy mình trở thành một phần của tác phầm đang chuyển động giữa thế giới màu sắc của họa sĩ.
“Đẹp là gì?” Người đầu tiên chính thức đặt ra câu hỏi căn bản này có lẽ là Socrates (469-399 TCN), và chính ông đã trả lời: “Đẹp là cái thích thú do tai nghe mắt thấy”. Plato (427—347 TCN) cho rằng “Vẻ đẹp là hình ảnh nhất quán và không thể thay đổi của những điều tốt nhất, tinh tế nhất.” Ông cũng là người đầu tiên đưa ra một nền tảng siêu hình về cái đẹp: không dừng lại ở cái đẹp hữu hình, mà đi tìm những giá trị siêu cao vô hình. Theo Immanuel Kant (1724-1804), vẻ đẹp là sự hài hòa giữa hình dáng và nội dung, là thứ khiến chúng ta cảm nhận sự tinh tế và thỏa mãn. Kant cho rằng cái đẹp gồm hai cảm nhận: cảm quan về sự cao cả và cảm quan về thẩm mỹ. Trong cả hai trường hợp, sự xúc động đều gây thích thú nhưng theo hai cách khác nhau: ý nghĩa cao cả khiến trái tim cảm động, còn mỹ thuật làm say mê trí óc của cặp mắt. Với tôn giáo thì vẻ đẹp còn liên quan đến niềm tin.
Ales Pushkin là một họa sĩ độc đáo. Anh là người đã yêu đất nước Belarus nồng nàn, tới mức nhiều lần đứng ra biểu tình đòi cho Belarus gia nhập NATO khi nhìn thấy Nga chiếm vùng Crimea của Ukraine, đã vẽ nhiều họa phẩm chống Tổng Thống Nga Vladimir Putin, bất kể có những cuộc biểu tình chỉ có đơn độc một mình anh ra phố đứng. Anh cũng là người yêu thương Ky tô giáo nồng nàn, đã thực hiện những tác phẩm trang trí nhà thờ, và sau khi nhiều lần vào tù, ra khám anh tâm sự với bạn hữu rằng đời anh chỉ sợ duy nhất có Chúa Trời. Bây giờ, Ales Pushkin (1965 - 2023) đã từ trần trong nhà tù Belarus. Bản tin hôm 12/7/2023 của AP ghi rằng, Ales Pushkin, một họa sĩ và là một nhà hoạt động chính trị người Belarus, người thường xuyên chỉ trích vị Tổng thống độc tài Alexander Lukashenko, đã chết trong tù hôm thứ Ba 11/7/2023 khi đang thọ án 5 năm.
Nhạc sĩ Trần Lê Việt, tác giả của bản nhạc tù quen thuộc, được mọi người nhắc đến, nghe lại vào các dịp kỷ niệm 30 tháng 4 hằng năm: Tháng Tư Đen (hay còn được nhớ nhất với cái tên Tháng Tư 29 ngày 31 đêm) trong dịp sinh nhật thứ 72 đã “được” ngồi xe lăn đi chầm chậm về phía cuối đường (đời). Chàng lãng tử với cây đàn nay không còn có thể “lãng tử” được nữa, dù cây đàn vẫn còn đó, vẫn còn là niềm vui của mỗi ngày, mỗi phút, mỗi giây chàng không phải đánh vật với bệnh tật...
Câu chuyện bắt đầu, một người kể: “Sở dĩ con kên kên sói đầu vì nó ăn mít. Nó đút đầu vào ruột trái mít đục khoét. Mủ mít dính chặt lông. Khi rút đầu ra, lông dính lại. Đầu trọc lóc.” Người thứ hai lên tiếng: “Nói vô lý. Kên kên ăn xác chết, ăn đồ hôi thúi. Mít có mùi thơm. Kên kên không ăn đồ thơm.” Người thứ nhất trả lời: “Nói có lý nhưng xét ra vô lý. Kên kên không ăn mít thường nhưng ăn Sầu riêng. Mít Sầu riêng hôi lắm.” “Nói vô lý. Sầu riêng thơm kiểu khác. Cả triệu người ăn. Cả triệu người ghiền. Điên hay sao mà ăn đồ hôi.” “Bà thấy thơm nhưng tui thấy hôi. Quyền tự do mà. Cả triệu người không ăn Sầu riêng. Cả triệu người thấy Sầu riêng hôi.” “Nói tào lao. Hoa thì thơm. Phân thì hôi. Ai có thể ngửi thấy hầm lù thơm?” “Có thể hôi thúi, nhưng ở đó lâu ngày, quen đi. Thúi cũng như thơm. Giống những người ở xung quanh Kinh Nước Đen.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.