Hôm nay,  

Đọc "Những Đóa Hoa Tật Nguyền" Của Như Không

03/12/202114:52:00(Xem: 3587)
blank

 

ĐỌC "NHỮNG ĐÓA HOA TẬT NGUYỀN" CỦA NHƯ KHÔNG
 

phan ni tấn

 

Như Không? Bút hiệu này gợi cho tôi liên tưởng ngay đến ngôn từ  Bát Nhã của nhà Phật. "Sắc bất dị Không. Không bất dị Sắc". Giản dị mà nói: "Có tức là Không. Không tức là Có". Đứng trước cái có, cái không, như không, như có, nhà thơ Như Không đã thể hiện tinh thần Bát Nhã Ba La Mật một cách khá rõ nét:
 

Mắt không muốn nhìn thì tai không nghe

Đầu không nghĩ tới

Tướng và sắc không cần phải hỏi

Mây khắp bốn trời

Ngửa bàn tay còn không thấy ngón

Người không hiểu

Ta càng không hiểu

Mãn thiên hoa vũ

Trước cũng không

Sau vẫn là không!

--- Không, tr. 77

  

Một kiểu công án Thiền tân thời mang hình thức lung linh biểu tượng. Người có tâm thiền thường mượn thơ để buông bỏ tất cả, dứt trừ hết khổ ách, chân thực không hư thì sá gì mất hay còn hoăc Mất Và Còn:

  

Đến không phải là có

Đi không phải là mất

Chằng chịt bao duyên nghiệp

Cõi tạm là sắc không

  

Còn. Không giữ

Mất. Không tiếc

Duyên còn thì còn nhau

Mất. Cần gì phải biết

  

Chẳng hiểu Thiền là gì

Sao lòng như đã Phật?

--- tr. 96

  

Lục bát Thiền của Như Không cũng dạt dào, sinh động, một sức sống tỉnh thức giữa thực tại và mông muội, giữa Sắc và Không:

  

Thoát thai

Từ cuộc hồng hoang

Hạt mầm mông muội

Bay ngang cõi này

  

Vô sắc tướng

Không hình hài

Chẳng từng vô thủy

Cõi ngoài hư không

  

Sắc không

Trôi giữa vô cùng

Buông thôi!

Gọi tiếng thinh không

Trở về

 --- Buông, tr. 102

  

Trở lại trang đầu tập thơ Những Đóa Hoa Tật Nguyền, người đọc nhận thấy ở lứa tuổi của thập niên 1950 nhiều văn nghệ sĩ đã khoát áo nhà binh trong đó có nhà thơ Như Không. Ngay từ bài thơ đầu tiên và rải rác qua những trang thơ, cho thấy tác giả Như Không từng đi lính. Nhưng không phải lính làng, lính lệ mà là lính thứ dữ: Nhảy Dù.  

  

Trong suốt ba mươi năm chiến tranh diễn ra giữa hai miền Nam Bắc, Nhảy Dù là một trong những binh chủng xuất sắc của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, từng gây sợ hãi và tạo nhiều thương vong cho địch quân. Các bạn tôi, những Đàm, Minh, Ngôn, Út… là những chiến sĩ Dù dũng cảm may mắn còn sống sót sau chiến tranh, trừ người bạn học ngày xưa Nguyễn Thành Được, trung úy Pháo Binh Dù đã vì nước hy sinh.

  

Con cá cần nước để sống, người và thú gần gũi như bạn thì súng đạn chẳng khác nào là bạn của lính. Ngoài mặt trận, súng ống, lưỡi lê, đạn dược, những vật thể vô tri không có mắt mà chí thiết này thật vô cùng hữu dụng. Nó là bạn, là anh em, đồng đội, thậm chí là người tình. Có điều lính thường thì không nói làm gì; còn lính mà dính tới văn chương chữ nghĩa thơ thẩn dàn trời như Như Không thì chữ thơ lại trở thành một loại vũ khí sắc bén đúc bằng chữ có khả năng bắn thẳng vào tâm hồn bạn đọc. Bài Ký Ức Của Một Người Lính là một thí dụ:  

   
Đồi núi Dakto nằm mấy tháng

Da mướt xanh như sắc lá rừng

Chong súng trong hầm chịu pháo bắn

Nghe tiếng depart lạnh sống lưng

  

Pháo rớt nơi nào đâu biết được

Đồi cao co cụm cả trăm người

Cơn bão thép trùm lên bốn hướng

Coi như ngày mới đẻ… đứt nôi

Đêm qua trúng pháo hầm banh nóc

Ghìm súng dưới hào nghe đạn reo

Chết mấy mạng. Thân ta bầm dập

Lên trực thăng cơn sốt rét về theo…

  

Cũng bài thơ trên, poncho dùng để che mưa che nắng đồng thời cũng để bộc thay người lính ngã xuống:

  
Ta bỏ lại sau lưng chiến địa

Ngổn ngang như có đá trong lòng

Poncho gói xác bao người chết

Cao điểm rồi đây giữ được không?...

  

Thơ Như Không sặc mùi chiến chinh, mùi lính, mùi lửa đạn, mùi máu anh em đầm đìa đến nỗi ngay cả căn cứ hỏa lực Thiện Ngôn được bao bọc toàn kẽm gai, mìn bẫy, và gió hú, nơi nhảy dù Như Không trấn đóng, mai vàng cũng không dám nở giữa mùa Xuân chinh chiến:

  

Đồn anh ở bây giờ

Mai vàng không dám nở

Máu lửa ngày chiến chinh

Phải đâu là chỗ trọ?

Em làm sao đến thăm

Kẽm gai giăng đầu ngõ

Đường đi chôn đầy mìn

Và từng đêm súng nổ

Đêm nay đêm hưu chiến

Súng vẫn ghìm trên tay

Đã từng đêm hưu chiến

Rụng rơi nhiều mạng người

Máu anh em đã đổ

Triền miên máu da vàng

Máu anh em vẫn đổ

Đầm đìa máu Việt Nam…

   --- Những Đêm Hưu Chiến, tr.60-61

  
Cũng cần nói thêm, trong chiến tranh Việt Nam, ngoài các căn cứ hỏa lực nổi tiếng như Pleime, Benhet, Delta, Dakto, Tân Cảnh, Hạ Lào, thì căn cứ hỏa lực Thiện Ngôn, tuy ít được biết đến nhưng cũng là một trong những cứ điểm chiến lược khá quan trọng nằm trên Quốc lộ 22 cách Tây Ninh khoảng 33 km về phía Tây Bắc và cách Katum khoảng 20 km phía Tây Nam. Nơi đây, năm 1968 từng xảy ra nhiều cuộc chiến ác liệt.

  

Lính chiến là lính ở sa trường nhiều hơn ở thành phố. Ở lâu ngoài mặt trận, từ quan đến quân, lính nào cũng có mùi rừng, mùi khét, tóc râu thì lởm chởm như lũ cô hồn sống. Nhưng cứ lao mình trong hòn tên mũi đạn riết cũng có ngày lính trở về thành phố, về dưỡng quân hay về ba ngày phép rồi lại ra trận. Ta đọc ở đây bài thơ Mai Lại Về Rừng, tr. 110, để cảm thương cho thân phận người lính tác chiến:

  

Vào quán nón sắt vất trong góc

Quân từ xa về còn mùi rừng

Cánh tay rướm máu gai cào xước

Tóc râu lởm chởm lũ cô hồn

  

Đôi giày trận lắm lem bùn đất

Bao ngày mưa gió tím môi thâm

Ta về phố tóc vương mùi khét

Nhớ lửa rừng xa dội tiếng bom

  

Hà cớ tiếc đời qua chén rượu

Lòng như cơn gió thoảng bên trời

Ta ngồi bên phố nghe rừng gọi

Mịt mịt đồi xa những xác người

  

Bia nốc chục chai như nước lạnh

Thương ngày khô khốc giữa rừng sâu

Đoàn quân khát nước đi le lưỡi

Đêm mịt mùng không ánh hỏa châu

   

Mắc võng khuya nằm nghe pháo bắn

Cú rúc mơ hồ trong bóng sương

Bốn phía đại ngàn cơn gió hú

Tiếng mưa rơi giấc ngủ chập chờn

   

Mai biết chừng đâu ta bỏ mạng

Dưới đáy hố bom, giữa xó rừng

Cũng có thể xác thân nằm lại

Rừng già vất vưởng một vong linh…

   

Thi ca là nghệ thuật của ngòi viết có tri thức. Thoát ra ngoài chinh chiến điêu linh, người đọc lại thấy nhà thơ Như Không an nhiên tự tại lặn lội vào đời không cặm bẫy, đạn bom, vượt qua mọi giả hình, giả cảnh  để sống thực cho mình và cho đời. Người có tâm thì thơ mới sống thực, ý thơ mới phơi phới trên từng hình tượng, âm thanh và ngôn ngữ.

  

Những Đóa Hoa Tật Nguyền, ngoài ngôn ngữ mênh mông hạnh phúc lẫn khổ ải trần gian, cũng như về hình tượng được tác giả mượn lịch sử để miêu tả và hào hứng diễn xuất bằng tiểu thuyết võ hiệp, thì âm thanh trong thơ Như Không cũng rạt rào vọng âm không kém.

  

Thật vậy, động từ trong thơ Như Không "động" một cách bình dị, nhưng tình tứ và thơ mộng. Mùa Xuân là mùa rất động, thường làm rộn cõi người, làm ngây ngất em, nhưng không may lại làm "héo" đi cõi lòng người thơ :

                

Lòng như cũng héo thêm đôi chút

Cuối mày chi chit vết chân chim

Ta quá cũ chẳng thể nào nói nỗi

Lắc đầu nhìn ta mà Xuân nín thinh

   --- Chút Xuân Còn Lại, tr. 22

   

Ở đời cái gì đã héo mà không rụng không rơi. Ngay cả tình yêu Những Giấc Mơ Hình Cầu cũng vậy, tiếng rơi thật đẹp:

  

Anh rơi vào em như dòng sông lặng

Đã yên bình chảy suốt mấy mươi năm

Em rơi vào anh. Chiều rơi định mệnh

Hòa tan nhau. Trong suốt đến vô ngần!

   --- (tr. 131)

   

Thơ là nơi trú ngụ của ký ức người. Là nơi chữ nghĩa được trải ra mà thành nghệ thuật thi ca. Chiến tranh trong thơ Như Không toàn thây người máu đổ thịt rơi, còn cảnh đời thì như ma trận không làm sao đương cự nỗi cái cơ cực, đắng cay trước cửa tử cửa sinh. May thay, Những Đóa Hoa Tật Nguyền có chân dung đa sắc, đa dạng, có hạnh phúc, có môi cười, có tình đời của hai người nắn tình yêu thành những tiếng động thật dễ thuơng:

  

Bên đời tôi róc rách em

Nửa hư nửa thật. Giữa đêm ngỡ ngày

Bên đời em róc rách tôi

Nghe như tiếng vọng cuối trời xa xôi

Giữa đời róc rách từng đôi

Róc ra róc rách… chảy hoài đời nhau.

   --- Róc Rách, tr. 34

  

Bài thơ Chiếc Cầu Chữ Y, tr. 124 cũng dễ thương không kém; cầu mang hình thức của chữ "Yêu" tuy chia ba ngả phù vân, song tình bất tử:

  

Chiếc cầu hình chữ Y

Chữ "Yêu" cũng bắt đầu như vậy

Em đứng giữa ngả ba cầu, lưỡng lự

Sông chảy đôi dòng

Tình chia bao nhánh

Một đời người biết mấy nẻo phù vân?

   

Ta đều biết ở Sài Gòn cầu chữ Y nằm từ đường Nguyễn Biểu bắt qua kinh Tàu Hủ và kinh Đôi nối liền quận 5 và quận 8, có ba nhánh tạo thành hình chữ Y-cà-rét tức Y dài. Ở Đà Lạt, Lâm Đồng hay Trà Ôn, Vĩnh Long, Phụng Hiệp, Hậu Giang cũng có cầu chữ Y nhưng ít người biết. Hồi còn đi học ở Sài Gòn, tôi từng đạp xe qua cầu chữ Y, ngang qua lò heo Chánh Hưng dọc theo kinh Tàu Hủ đi thăm cô bạn người Hải Nàm (Cô ấy mất ở Bỉ đã nhiều năm). Và tôi cũng có lần đứng trên cầu chữ Y trên bờ Hồ Xuân Hương, Đà Lạt phồng mũi cố hít… mùi cà phê trong quán Thủy Tạ thoảng hương từ bên kia bờ hồ.

   

Ngoài ra, Những Đóa Hoa Tật Nguyền còn có những nét đáng yêu khác, như Cầu Vòng Và Em (tr. 23), Em Newton (tr. 24), Eureka (tr. 26), Quy Y (tr. 27), Đũa (tr. 97), Mẹ Và Em (tr. 116)…, là một cách nhìn khá cởi mở, tự do và phóng khoáng.

  

Nhưng mà Những Đóa Hoa Tật Nguyền là hoa gì, lật từng trang sách tôi tìm hoài mà chẳng thấy hoa đâu? Hoa mọc ở cành Nam mà tôi như con chim rả cánh bay tìm biển Bắc? Thì ra những đóa hoa tật nguyền này không phải là những vật thể làm bằng giấy, bằng nhựa hay bằng tinh bột mà tác giả đã làm ra nó bằng ký ức được miêu tả bằng những "biểu tượng tâm linh" nhấp nhô bào ảnh.

   

Những trận đánh, máu lửa ngày chiến chinh, cơn bão thép, cõi đất dữ, đời lỡ vận, cuộc chia ly Âu Lạc, vun vút tiếng gươm bay, máu đổ Lệ Chi Viên, lạnh một tiếng cười xa xăm, phù hư một thoáng, oan nghiệt cõi đi về, trận đại dịch tràn tới, cơn hồng thủy đỗ về, rừng cạo trọc, sông cạn núi mòn, ma quỷ đảo điên chiều lịch sử, sự kiêu hãnh mù lòa, tiếng người chết nghiến răng, một cuộc mất trinh, trần gian héo rũ, những nỗi đau không đếm hết

  

Dưới cái nhìn của Như Không tất cả những biểu tượng tâm linh kia lần lượt trở thành "những đóa hoa tật nguyền". Tuy tật nguyền nhưng những đóa hoa đời không bao giờ héo. Lịch sử cũng vậy, thay vì héo lại sáng bừng lên một vẻ đẹp rưng rưng.

 

.

NHƯ KHÔNG sinh năm 1951 tại Quảng Nam. Trong thời chiến là lính Nhảy Dù. Giải ngũ trước 1975 do chiến thương. Tiếp tục đi học lấy bằng cử nhân văn, dạy học nhiều Trung Tâm Ngoại Ngữ tại Sài Gòn.

Tác phẩm đã in:

- Hoàng Nhã Như Không ( thơ, 2012 ).  Những Đóa Hoa Tật Nguyền (thơ và truyện ngắn, 2021 ). Góp mặt trong tác phẩm 108 Nhà Văn, Nhà Thơ Giữa Thế Kỷ XX do Nhà Biên Khảo Ngô Nguyên Nghiễm thực hiện, 2020. Góp mặt trong tác phẩm 44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại do nhà thơ Luân Hoán thực hiện, 2021. Bài vở đóng góp cho các tạp chí văn học trong và ngoài nước. Hiện sống, viết, vẽ, dạy học trong nước.  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Về các mối quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã đạt đến một tình trạng tồi tệ như thế nào, năm cuốn sách mới đây đã đưa ra năm lời giải thích dị biệt, nhưng thường trùng lặp nhau. Nhìn chung, các cuốn sách cho rằng, mặc dù Mỹ có thể đã làm quá mức về các chính sách trước đây trong tinh thần cam kết, nhưng sẽ là một sai lầm nguy hiểm nếu Mỹ đi quá xa trong chiều hướng khác...
Nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, từ Đà Lạt, gửi cho chúng tôi truyện ngắn sau đây, cũng là một chương trong tiểu thuyết của anh, cuốn Trên đỉnh thanh xuân, viết từ năm 1967, khi anh còn là sinh viên ở Huế, trong phong trào Phật giáo miền Trung, những năm sôi động...
Nguyễn Hưng Quốc (tên thật là Nguyễn Ngọc Tuấn) được biết đến như là một nhà phê bình văn học ở hải ngoại. Vào cuối thập niên 1980s, Nguyễn Hưng Quốc xuất hiện trên văn đàn hải ngoại một cách sáng chói vì anh đem lại một luồng gió mới trong phê bình văn học. Những ai đã chán với cách phê bình văn học theo cảm tính về một tác phẩm, nhiều sáo ngữ về bối cảnh, và nghiêng về những câu chuyện cá nhân tác giả, đột nhiên tìm thấy một cách phê bình văn học mới mẻ, có phương pháp luận rõ ràng, có khoa học tính, và có khi cả định lượng. Trước đây, đã có một nhà phê bình nổi tiếng là Đặng Tiến ở Pháp, nay chúng ta có thêm một Nguyễn Hưng Quốc. Nhà văn Võ Phiến cho rằng "Người xứ An Nam ta chưa có nhà lí luận văn học nào mà viết đẹp như Nguyễn Ngọc Tuấn. Nhiều đoạn đọc mà mê." Quả đúng như vậy.
Ngày 17 tháng 10/2021, tại Hội Chợ Sách (Book Fair) ở Trung Tâm thương xá Eden, do Nhà Việt Nam tại Virginia và Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tổ chức, “Tuyển Tập THƠ Chim Bay Mỏi Cánh” của nữ sĩ Cao Mỵ Nhân được giới thiệu lần đầu tiên...
Trong Vườn Mắt Em là một hợp tuyển gồm truyện & kịch chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha của tổng cộng 21 nước trên thế giới dùng tiếng này làm ngôn ngữ chính thức. Các nhà văn trong hợp tuyển này đại diện cho một nền văn chương tiếng Tây Ban Nha hùng hậu và đa dạng; họ là những người có sự nghiệp văn chương lẫy lừng: từ Gabriel García Márquez, María Luisa Bombal, Luis de Lión, đến những tác giả trẻ hơn đã khẳng định được vị trí của mình và được nhiều giải thưởng văn học như Claudia Hernández, Valería Luiselli, Patricio Pron, Julio Ramón Ribeyro… Dịch giả là Trần C. Trí, đã giảng dạy ngôn ngữ học Tây Ban Nha bậc đại học và cao học ở Nam California trong hơn hai mươi năm qua. Việc thực hiện hợp tuyển này là một quá trình tuyển lọc công phu của các tác giả đại diện cho 19 nước Nam Mỹ, thêm Tây Ban Nha và Guinea Ecuatorial ở châu Phi, và để chọn một truyện/kịch tiêu biểu cho từng nhà văn trong hợp tuyển.
Sách mới của nhà văn Phạm Quốc Bảo: Chuyện Nào Vẫn Cần Thuật Lại, cuốn II.
Tác phẩm mới phát hành của Lê Giang Trần là một tuyển tập nhiều bài viết, trong đó gồm 4 thể loại: Tản mạn, Bút ký, Truyện ngắn, Thơ. Trong thể loại nào, anh cũng thành công theo một cách cảm xúc rất riêng, với kiểu rất mực giang hồ chữ nghĩa, nơi nhà thơ Du Tử Lê đã gọi Lê Giang Trần là một “công tử Bạc Liêu bập bùng những hơi thở buồn”
Trong lần về nước đầu tiên, năm 1996, tôi ở Hà Nội ba tuần, gặp gỡ khá nhiều người cầm bút ở đó, từ Dương Tường đến Trần Quốc Vượng, từ Hoàng Ngọc Hiến đến Đỗ Lai Thuý, từ Phong Lê đến Văn Tâm, từ Lê Đạt đến Dương Thu Hương, từ Trần Dần đến Hoàng Cầm, từ Nguyễn Huệ Chi đến Bảo Ninh. Nhưng có cảm giác thân nhất là hai người: Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Xuân Nguyên...
Một người sống được gần một trăm tuổi, còn sinh lực dồi dào, nên chưa ra đi, đó là chuyện xưa nay hiếm. Hơn nữa, trong tác phẩm mới nhất: Tinh thần lãnh đạo, sáu nghiên cứu trong chiến lược thế giới (Leadership - Six Studies in World Strategy)...
Tác phẩm nhan đề Quan Âm Tế Độ, nơi bìa có ghi thêm đề phụ là: Chuyện tu hành khó khăn của Đức Phật Bà Quan Âm, gia tài văn học Phật Giáo Chữ Nôm. Do Nguyễn Văn Sâm phiên âm dịch chú giải, và Nguyễn Hiền Tâm đính chánh. Bìa trong ghi là: Truyện Nôm Quan Âm Diệu Thiện, từ nguyên tác Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca. Nhìn sơ khởi, thấy trước tiên, đây là một tác phẩm mang văn phong Nam Bộ. Khi người viết mở bất kỳ, thí dụ, ra nơi trang 175, thấy dòng thứ 3479 viết “Tay chưn buộc trói thiết tha” là thấy ngay giọng người miền Tây. Thứ nhì, đây là thơ lục bát, trong văn phong ưa thích ngâm nga của dân miền Tây, cho thấy cách hoằng pháp của cổ đức khi phiêu dạt từ miền Bắc hay Trung về khai phá miền Nam, đã viết lên truyện thơ chữ nôm này để hoằng pháp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.