Hôm nay,  

Đọc "Những Đóa Hoa Tật Nguyền" Của Như Không

03/12/202114:52:00(Xem: 3595)
blank

 

ĐỌC "NHỮNG ĐÓA HOA TẬT NGUYỀN" CỦA NHƯ KHÔNG
 

phan ni tấn

 

Như Không? Bút hiệu này gợi cho tôi liên tưởng ngay đến ngôn từ  Bát Nhã của nhà Phật. "Sắc bất dị Không. Không bất dị Sắc". Giản dị mà nói: "Có tức là Không. Không tức là Có". Đứng trước cái có, cái không, như không, như có, nhà thơ Như Không đã thể hiện tinh thần Bát Nhã Ba La Mật một cách khá rõ nét:
 

Mắt không muốn nhìn thì tai không nghe

Đầu không nghĩ tới

Tướng và sắc không cần phải hỏi

Mây khắp bốn trời

Ngửa bàn tay còn không thấy ngón

Người không hiểu

Ta càng không hiểu

Mãn thiên hoa vũ

Trước cũng không

Sau vẫn là không!

--- Không, tr. 77

  

Một kiểu công án Thiền tân thời mang hình thức lung linh biểu tượng. Người có tâm thiền thường mượn thơ để buông bỏ tất cả, dứt trừ hết khổ ách, chân thực không hư thì sá gì mất hay còn hoăc Mất Và Còn:

  

Đến không phải là có

Đi không phải là mất

Chằng chịt bao duyên nghiệp

Cõi tạm là sắc không

  

Còn. Không giữ

Mất. Không tiếc

Duyên còn thì còn nhau

Mất. Cần gì phải biết

  

Chẳng hiểu Thiền là gì

Sao lòng như đã Phật?

--- tr. 96

  

Lục bát Thiền của Như Không cũng dạt dào, sinh động, một sức sống tỉnh thức giữa thực tại và mông muội, giữa Sắc và Không:

  

Thoát thai

Từ cuộc hồng hoang

Hạt mầm mông muội

Bay ngang cõi này

  

Vô sắc tướng

Không hình hài

Chẳng từng vô thủy

Cõi ngoài hư không

  

Sắc không

Trôi giữa vô cùng

Buông thôi!

Gọi tiếng thinh không

Trở về

 --- Buông, tr. 102

  

Trở lại trang đầu tập thơ Những Đóa Hoa Tật Nguyền, người đọc nhận thấy ở lứa tuổi của thập niên 1950 nhiều văn nghệ sĩ đã khoát áo nhà binh trong đó có nhà thơ Như Không. Ngay từ bài thơ đầu tiên và rải rác qua những trang thơ, cho thấy tác giả Như Không từng đi lính. Nhưng không phải lính làng, lính lệ mà là lính thứ dữ: Nhảy Dù.  

  

Trong suốt ba mươi năm chiến tranh diễn ra giữa hai miền Nam Bắc, Nhảy Dù là một trong những binh chủng xuất sắc của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, từng gây sợ hãi và tạo nhiều thương vong cho địch quân. Các bạn tôi, những Đàm, Minh, Ngôn, Út… là những chiến sĩ Dù dũng cảm may mắn còn sống sót sau chiến tranh, trừ người bạn học ngày xưa Nguyễn Thành Được, trung úy Pháo Binh Dù đã vì nước hy sinh.

  

Con cá cần nước để sống, người và thú gần gũi như bạn thì súng đạn chẳng khác nào là bạn của lính. Ngoài mặt trận, súng ống, lưỡi lê, đạn dược, những vật thể vô tri không có mắt mà chí thiết này thật vô cùng hữu dụng. Nó là bạn, là anh em, đồng đội, thậm chí là người tình. Có điều lính thường thì không nói làm gì; còn lính mà dính tới văn chương chữ nghĩa thơ thẩn dàn trời như Như Không thì chữ thơ lại trở thành một loại vũ khí sắc bén đúc bằng chữ có khả năng bắn thẳng vào tâm hồn bạn đọc. Bài Ký Ức Của Một Người Lính là một thí dụ:  

   
Đồi núi Dakto nằm mấy tháng

Da mướt xanh như sắc lá rừng

Chong súng trong hầm chịu pháo bắn

Nghe tiếng depart lạnh sống lưng

  

Pháo rớt nơi nào đâu biết được

Đồi cao co cụm cả trăm người

Cơn bão thép trùm lên bốn hướng

Coi như ngày mới đẻ… đứt nôi

Đêm qua trúng pháo hầm banh nóc

Ghìm súng dưới hào nghe đạn reo

Chết mấy mạng. Thân ta bầm dập

Lên trực thăng cơn sốt rét về theo…

  

Cũng bài thơ trên, poncho dùng để che mưa che nắng đồng thời cũng để bộc thay người lính ngã xuống:

  
Ta bỏ lại sau lưng chiến địa

Ngổn ngang như có đá trong lòng

Poncho gói xác bao người chết

Cao điểm rồi đây giữ được không?...

  

Thơ Như Không sặc mùi chiến chinh, mùi lính, mùi lửa đạn, mùi máu anh em đầm đìa đến nỗi ngay cả căn cứ hỏa lực Thiện Ngôn được bao bọc toàn kẽm gai, mìn bẫy, và gió hú, nơi nhảy dù Như Không trấn đóng, mai vàng cũng không dám nở giữa mùa Xuân chinh chiến:

  

Đồn anh ở bây giờ

Mai vàng không dám nở

Máu lửa ngày chiến chinh

Phải đâu là chỗ trọ?

Em làm sao đến thăm

Kẽm gai giăng đầu ngõ

Đường đi chôn đầy mìn

Và từng đêm súng nổ

Đêm nay đêm hưu chiến

Súng vẫn ghìm trên tay

Đã từng đêm hưu chiến

Rụng rơi nhiều mạng người

Máu anh em đã đổ

Triền miên máu da vàng

Máu anh em vẫn đổ

Đầm đìa máu Việt Nam…

   --- Những Đêm Hưu Chiến, tr.60-61

  
Cũng cần nói thêm, trong chiến tranh Việt Nam, ngoài các căn cứ hỏa lực nổi tiếng như Pleime, Benhet, Delta, Dakto, Tân Cảnh, Hạ Lào, thì căn cứ hỏa lực Thiện Ngôn, tuy ít được biết đến nhưng cũng là một trong những cứ điểm chiến lược khá quan trọng nằm trên Quốc lộ 22 cách Tây Ninh khoảng 33 km về phía Tây Bắc và cách Katum khoảng 20 km phía Tây Nam. Nơi đây, năm 1968 từng xảy ra nhiều cuộc chiến ác liệt.

  

Lính chiến là lính ở sa trường nhiều hơn ở thành phố. Ở lâu ngoài mặt trận, từ quan đến quân, lính nào cũng có mùi rừng, mùi khét, tóc râu thì lởm chởm như lũ cô hồn sống. Nhưng cứ lao mình trong hòn tên mũi đạn riết cũng có ngày lính trở về thành phố, về dưỡng quân hay về ba ngày phép rồi lại ra trận. Ta đọc ở đây bài thơ Mai Lại Về Rừng, tr. 110, để cảm thương cho thân phận người lính tác chiến:

  

Vào quán nón sắt vất trong góc

Quân từ xa về còn mùi rừng

Cánh tay rướm máu gai cào xước

Tóc râu lởm chởm lũ cô hồn

  

Đôi giày trận lắm lem bùn đất

Bao ngày mưa gió tím môi thâm

Ta về phố tóc vương mùi khét

Nhớ lửa rừng xa dội tiếng bom

  

Hà cớ tiếc đời qua chén rượu

Lòng như cơn gió thoảng bên trời

Ta ngồi bên phố nghe rừng gọi

Mịt mịt đồi xa những xác người

  

Bia nốc chục chai như nước lạnh

Thương ngày khô khốc giữa rừng sâu

Đoàn quân khát nước đi le lưỡi

Đêm mịt mùng không ánh hỏa châu

   

Mắc võng khuya nằm nghe pháo bắn

Cú rúc mơ hồ trong bóng sương

Bốn phía đại ngàn cơn gió hú

Tiếng mưa rơi giấc ngủ chập chờn

   

Mai biết chừng đâu ta bỏ mạng

Dưới đáy hố bom, giữa xó rừng

Cũng có thể xác thân nằm lại

Rừng già vất vưởng một vong linh…

   

Thi ca là nghệ thuật của ngòi viết có tri thức. Thoát ra ngoài chinh chiến điêu linh, người đọc lại thấy nhà thơ Như Không an nhiên tự tại lặn lội vào đời không cặm bẫy, đạn bom, vượt qua mọi giả hình, giả cảnh  để sống thực cho mình và cho đời. Người có tâm thì thơ mới sống thực, ý thơ mới phơi phới trên từng hình tượng, âm thanh và ngôn ngữ.

  

Những Đóa Hoa Tật Nguyền, ngoài ngôn ngữ mênh mông hạnh phúc lẫn khổ ải trần gian, cũng như về hình tượng được tác giả mượn lịch sử để miêu tả và hào hứng diễn xuất bằng tiểu thuyết võ hiệp, thì âm thanh trong thơ Như Không cũng rạt rào vọng âm không kém.

  

Thật vậy, động từ trong thơ Như Không "động" một cách bình dị, nhưng tình tứ và thơ mộng. Mùa Xuân là mùa rất động, thường làm rộn cõi người, làm ngây ngất em, nhưng không may lại làm "héo" đi cõi lòng người thơ :

                

Lòng như cũng héo thêm đôi chút

Cuối mày chi chit vết chân chim

Ta quá cũ chẳng thể nào nói nỗi

Lắc đầu nhìn ta mà Xuân nín thinh

   --- Chút Xuân Còn Lại, tr. 22

   

Ở đời cái gì đã héo mà không rụng không rơi. Ngay cả tình yêu Những Giấc Mơ Hình Cầu cũng vậy, tiếng rơi thật đẹp:

  

Anh rơi vào em như dòng sông lặng

Đã yên bình chảy suốt mấy mươi năm

Em rơi vào anh. Chiều rơi định mệnh

Hòa tan nhau. Trong suốt đến vô ngần!

   --- (tr. 131)

   

Thơ là nơi trú ngụ của ký ức người. Là nơi chữ nghĩa được trải ra mà thành nghệ thuật thi ca. Chiến tranh trong thơ Như Không toàn thây người máu đổ thịt rơi, còn cảnh đời thì như ma trận không làm sao đương cự nỗi cái cơ cực, đắng cay trước cửa tử cửa sinh. May thay, Những Đóa Hoa Tật Nguyền có chân dung đa sắc, đa dạng, có hạnh phúc, có môi cười, có tình đời của hai người nắn tình yêu thành những tiếng động thật dễ thuơng:

  

Bên đời tôi róc rách em

Nửa hư nửa thật. Giữa đêm ngỡ ngày

Bên đời em róc rách tôi

Nghe như tiếng vọng cuối trời xa xôi

Giữa đời róc rách từng đôi

Róc ra róc rách… chảy hoài đời nhau.

   --- Róc Rách, tr. 34

  

Bài thơ Chiếc Cầu Chữ Y, tr. 124 cũng dễ thương không kém; cầu mang hình thức của chữ "Yêu" tuy chia ba ngả phù vân, song tình bất tử:

  

Chiếc cầu hình chữ Y

Chữ "Yêu" cũng bắt đầu như vậy

Em đứng giữa ngả ba cầu, lưỡng lự

Sông chảy đôi dòng

Tình chia bao nhánh

Một đời người biết mấy nẻo phù vân?

   

Ta đều biết ở Sài Gòn cầu chữ Y nằm từ đường Nguyễn Biểu bắt qua kinh Tàu Hủ và kinh Đôi nối liền quận 5 và quận 8, có ba nhánh tạo thành hình chữ Y-cà-rét tức Y dài. Ở Đà Lạt, Lâm Đồng hay Trà Ôn, Vĩnh Long, Phụng Hiệp, Hậu Giang cũng có cầu chữ Y nhưng ít người biết. Hồi còn đi học ở Sài Gòn, tôi từng đạp xe qua cầu chữ Y, ngang qua lò heo Chánh Hưng dọc theo kinh Tàu Hủ đi thăm cô bạn người Hải Nàm (Cô ấy mất ở Bỉ đã nhiều năm). Và tôi cũng có lần đứng trên cầu chữ Y trên bờ Hồ Xuân Hương, Đà Lạt phồng mũi cố hít… mùi cà phê trong quán Thủy Tạ thoảng hương từ bên kia bờ hồ.

   

Ngoài ra, Những Đóa Hoa Tật Nguyền còn có những nét đáng yêu khác, như Cầu Vòng Và Em (tr. 23), Em Newton (tr. 24), Eureka (tr. 26), Quy Y (tr. 27), Đũa (tr. 97), Mẹ Và Em (tr. 116)…, là một cách nhìn khá cởi mở, tự do và phóng khoáng.

  

Nhưng mà Những Đóa Hoa Tật Nguyền là hoa gì, lật từng trang sách tôi tìm hoài mà chẳng thấy hoa đâu? Hoa mọc ở cành Nam mà tôi như con chim rả cánh bay tìm biển Bắc? Thì ra những đóa hoa tật nguyền này không phải là những vật thể làm bằng giấy, bằng nhựa hay bằng tinh bột mà tác giả đã làm ra nó bằng ký ức được miêu tả bằng những "biểu tượng tâm linh" nhấp nhô bào ảnh.

   

Những trận đánh, máu lửa ngày chiến chinh, cơn bão thép, cõi đất dữ, đời lỡ vận, cuộc chia ly Âu Lạc, vun vút tiếng gươm bay, máu đổ Lệ Chi Viên, lạnh một tiếng cười xa xăm, phù hư một thoáng, oan nghiệt cõi đi về, trận đại dịch tràn tới, cơn hồng thủy đỗ về, rừng cạo trọc, sông cạn núi mòn, ma quỷ đảo điên chiều lịch sử, sự kiêu hãnh mù lòa, tiếng người chết nghiến răng, một cuộc mất trinh, trần gian héo rũ, những nỗi đau không đếm hết

  

Dưới cái nhìn của Như Không tất cả những biểu tượng tâm linh kia lần lượt trở thành "những đóa hoa tật nguyền". Tuy tật nguyền nhưng những đóa hoa đời không bao giờ héo. Lịch sử cũng vậy, thay vì héo lại sáng bừng lên một vẻ đẹp rưng rưng.

 

.

NHƯ KHÔNG sinh năm 1951 tại Quảng Nam. Trong thời chiến là lính Nhảy Dù. Giải ngũ trước 1975 do chiến thương. Tiếp tục đi học lấy bằng cử nhân văn, dạy học nhiều Trung Tâm Ngoại Ngữ tại Sài Gòn.

Tác phẩm đã in:

- Hoàng Nhã Như Không ( thơ, 2012 ).  Những Đóa Hoa Tật Nguyền (thơ và truyện ngắn, 2021 ). Góp mặt trong tác phẩm 108 Nhà Văn, Nhà Thơ Giữa Thế Kỷ XX do Nhà Biên Khảo Ngô Nguyên Nghiễm thực hiện, 2020. Góp mặt trong tác phẩm 44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại do nhà thơ Luân Hoán thực hiện, 2021. Bài vở đóng góp cho các tạp chí văn học trong và ngoài nước. Hiện sống, viết, vẽ, dạy học trong nước.  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có một năm chúng tôi đi leo núi ở Red Rock, Las Vegas, chồng tôi gặp một người Hàn Quốc. Anh ta làm nghề sửa các thiết bị điện lạnh, sống một mình. Khi gặp người cùng ngôn ngữ, anh ta vui mừng mời chồng tôi về nhà. Căn phòng đó thật kỳ lạ. Hoàn toàn không có vật dụng cá nhân gì cả, kể cả giường. Chỉ là một căn phòng thuê trống để anh ta về nằm ngủ.
Bạn đang cư trú ở một nơi rất xa quê nhà. Thế rồi, một hôm, bạn mở TV xem và bất chợt nhìn thấy một vở kịch Nhật Bản thể loại Noh, và bạn bùi ngùi nhớ về quê nhà, nơi thời thơ ấu bạn đã từng xem một tuồng hát bội, một thể loại kịch cổ điển thường hát ở các ngôi đình Miền Nam Việt Nam. Khi vở Kịch Noh vừa chấm dứt, cho dù bạn chưa hiểu tận tường tuồng Nhật Bản nói gì, nước mắt đã đầm đìa trên mắt của bạn, đó là nước mắt khi nhớ về thời tuổi nhỏ chạy chơi trong sân đình, nơi các nghệ sĩ tuồng ngồi vẽ mặt của những buổi chiều trước giờ kéo màn.
Trước năm 2005, tôi đọc vài bài viết ký tên Vương Thư Sinh, Hoàng Tiểu Ca với lối hành văn nhẹ nhàng, trong sáng nên rất thích. Khi hỏi người bạn đồng khóa, nhà văn Dương Viết Điền cùng ở Los Angeles, cho biết đó là nhà văn Trần Việt Hải. Hè năm 2005, tôi ra tờ Cali Weekly, mời người bạn thân Nguyễn Ngọc Chấn làm chủ bút, và ngỏ ý với Việt Hải làm tổng thư ký, anh vui vẻ nhận lời. Năm 2008, tôi phục trách Section B của nhật báo Saigon Nhỏ, mỗi ngảy với chủ đề riêng, Thứ Bảy là Văn Học Nghệ Thuật, tôi cần bài gì và Việt Hải gợi ý cho tôi viết bài gì đều đáp ứng suốt 7 năm.
"Những gì chúng ta đã trải qua, và những gì chúng ta sẽ phải đối diện, đều là những vấn đề nhỏ nhặt so với những gì nội tại trong chính con người của chúng ta." – Ralph Waldo Emerson.
Giới thiệu sách với tôi là giới thiệu cảm hứng sáng tác văn học của chính tác giả. Có thể là một đề tài mang tính triết học văn chương rộng rãi, hay một điều nào đó nặng tính cảm xúc như buồn vui đời thường mà bất kỳ ai cần bạn bè, người thân chung quanh chia sẻ. Nói như thế có nghĩa tôi muốn đơn giản hóa một vấn đề lớn lao mà có thể phải mất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu.
Đọc Trịnh Y Thư là đọc một nghệ thuật viết tiểu thuyết vừa siêu hình vừa hiện thực. Nó thực thực hư hư đầy bất ngờ ở những bước ngoặt tình tiết. Độc giả thoạt thấy câu chuyện là như vầy, nhưng đoạn sau nó lại mở ra một cảnh mới, nhân vật cũ mà cảnh thì khác. Lối sắp xếp câu chuyện, dàn cảnh như trong phim trường. Tác giả dẫn dắt khán giả như đang xem một cuốn phim mà nhà đạo diễn đổi cảnh quay, đổi đề tài, đổi tâm tính mà vẫn luôn giữ khán giả ở lại với nhân vật của truyện, của con người Việt Nam trong suốt ba cuộc bể dâu...
“ VÀ EM, LỄ KHẤN DÒNG” ( VE,LKD) là thi phẩm thứ 24 của nhà thơ Lê Đình Bảng, sau 23 tác phẩm đã xuất bản gồm các sách Giảng văn, Giáo trình sách giáo khoa, Thơ, Văn, Bút ký... xuất bản từ năm 1962 ở Sài Gòn và hải ngoại cho đến nay. Sách dày 110 trang gồm 63 bài thơ và lời giới thiệu của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc, do nhà Xuất bản Tuổi Hoa Publishing, Hoa Kỳ ấn hành tháng 8 năm 2024, với tranh bìa của họa sĩ Nguyễn Hà và ký họa chân dung tác giả của họa sĩ Chóe.
Hiếm có một tiểu thuyết như Đường về thủy phủ của Trịnh Y Thư. Không phải là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, nhưng lại làm người đọc phải bâng khuâng nghĩ về những chặng đường đã trải qua của dân tộc. Không phải là một tiểu thuyết diễm tình, nhưng lòng độc giả sẽ chùng xuống khi khép trang sách lại và ngậm ngùi cho những mối tình tan vỡ. Bạn có thể đọc xong, tuần sau đọc lại, vẫn còn thấy có những gì như cần đọc nữa. Chữ của Trịnh Y Thư như dường không cũ tí nào, vì nó luôn luôn gợi tới những gì sâu thẳm trong tim mỗi người, những ước mơ về một mối tình rất mực kỳ ngộ, rất mực dị thường.
“Ở Phía Đông Âm Phủ” là một trong hai truyện tạo thành tập truyện có cùng tựa đề “Ở Phía Đông Âm Phủ” của nhà văn Nguyễn Viện. Sách dày 184 trang do Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2024. Ở âm phủ, dĩ nhiên, để bị trừng phạt và đền tội, nếu vậy, ngụ ý của tác giả là tội gì, đối với các nhân vật trong truyện, những lãnh tụ có thật đưa vào hư cấu, mang máu lịch sử, tạo ra những khúc quanh lớn cho dân tộc, chôn hàng hà sa số xương thịt của người dân, dù có ý định tốt đẹp? Đối với lãnh đạo, lý tưởng và hành động là hai bạn đồng hành, nếu họ yêu nhau, chuyện tốt đẹp sẽ xảy ra; nếu họ phản bội nhau, chuyện xấu xa sẽ xuất hiện sau mặt nạ son phấn của tuyên truyền.
Sách mới "Ở PHÍA ĐÔNG ÂM PHỦ" của Nguyễn Viện, do NXB Tiếng Quê Hương (Mỹ) ấn hành, 2024. Gồm 2 truyện kịch: VÀ, HẮN ĐÃ ĐẾN & Ở PHÍA ĐÔNG ÂM PHỦ. Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng nhận định: “Ở phía đông âm phủ” độc đáo ở chỗ tác giả không miêu tả trực tiếp nhân vật, mà để cho họ nói năng như trên sân khấu, như trong một vở kịch. Hình thức tiểu thuyết - kịch rất hiếm trong văn học Việt Nam… Những quan sát của anh sắc bén, và trong một ngôn ngữ đẹp, giản dị, tinh tế, dí dỏm, tôi thiết nghĩ anh đã thành công trong việc đánh thức ý thức lịch sử và xúc cảm cá nhân nơi người đọc. Nhà nghiên cứu lý luận Ngu Yên đúc kết: Trên con đường văn chương Việt, Nguyễn Viện trở thành một trong số ít nhà văn phiêu lưu, dọ dẫm vào miền văn học lạ lẫm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.