Hôm nay,  

Giới thiệu tuyển tập “KÝ 3” của Đinh Quang Anh Thái

23/06/202217:09:00(Xem: 7184)

Giới thiệu tuyển tập “KÝ 3”

của Đinh Quang Anh Thái

 

Phan Tấn Hải

 
blank

Tuyển tập “KÝ 3” của Đinh Quang Anh Thái đã phát hành gần đây. Tuyển tập gồm những bài ghi lại tiếng nói của nhiều người có liên hệ tới dòng chảy lịch sử của quê nhà, và phần lớn là những người được gọi là dị kiến, hay những ý kiến nằm ngoài khu vực chính thống của nhà nước CSVN.
 

Đọc trang Mục Lục là có thể thấy những âm vang ngoài vòng chính thống, nhưng lại chính là tiếng nói chân thực phù hợp với suy nghĩ của đa số đồng bào.

- Vĩnh biệt bác Bùi Diễm;

- Dan Southerland, những phút cuối cùng của VNCH;

- Nguyễn Tú - "Phạm Xuân Ẩn làm gián điệp gây tai hại vô cùng cho đất nước".

- Nguyễn Thừa Du và Trần Thụy Ly - Biến động mi62n Trung 1965

- Lê Thị Ý - Ngày mai đi nhận xác chồng

- Tống Văn Công - Bước qua lời nguyễn

- Tô Hải - Hồi ký của một thằng hèn

- Thái - Bình

- Tiêu Dao Bảo Cự - Nửa đời nhìn lại

- Bùi Minh Quốc - Tiếng thét trong thơ

- Sinh hoạt văn học Miền Nam trước 1975 trong mắt: Võ Đắc Danh, Tuấn Khanh, Thúy Hà, Tống Văn Công, Nguyễn Thanh Bình, Trần Đĩnh, Kim Chi, Nguyễn Thị Hậu, Dương Thu Hương

- Nam Phương - Lời bạt.

.

Tuyển tập dày 248 trang. Trong Lời Ngỏ, Đinh Quang Anh Thái viết, trích: "KÝ 3 là một nén hương của tác giả thành kính tưởng nhớ những người đã khuất và cũng là tấm lòng đối với những người còn sống ẩn hiện trong cuốn sách."

Để độc giả có thể nhìn sơ lược nội dung sách, nơi đây chúng ta sẽ trích tiếng nói của vài tác giả được tác giả ĐQAT phỏng vấn.

.

Trường hợp nhạc sĩ Tô Hải (1927-2018), người đã viết cuốn "Hồi ký của một thằng hèn" – cũng là một điển hình cho nhiều trí thức gia nhập Đảng CSVN và rồi, khi tỉnh thức, đã rời bỏ Đảng CSVN. Nhạc sĩ Tô Hải tức Tô Đình Hải sinh năm 1927 tại Hà Nội. Bắt đầu học chữ và học nhạc tại các trường soeur Hà Nội, và sau khi đậu tú tài I chương trình Pháp, Tô Hải gia nhập Vệ Quốc Đoàn rồi trở thành đảng viên đảng Cộng Sản. Từ năm 1947, tên tuổi Tô Hải được nhiều người biết đến với các ca khúc Nụ Cười Sơn Cước, Trở Lại Đô Thành… Tô Hải viết nhiều, trên dưới 1,000 bản nhạc, nhưng như chính lời ông thú nhận, “hầu hết sáng tác của tôi là do ‘hèn’ nên nội dung chỉ là hát lên hát xuống các khẩu hiệu tuyên truyền.” Năm 1960, Tô Hải bỏ đảng Cộng Sản, ra khỏi quân đội. Sau năm 1975, ông vào Sài Gòn và năm 1986 về hưu non. Khi tác giả ĐQAT phỏng vấn, nhạc sĩ Tô Hải lúc đó là 83 tuổi. Cụ từ trần 7 năm sau đó.

Nơi đây chúng ta trích vài đoạn nơi trang 118-119 của tuyển tập “KÝ 3” khi nhạc sĩ trả lời tác giả Đinh Quang Anh Thái:

 

“ĐQAT: Thông thường, khi viết hồi ký, người ta có thói quen nói tốt về mình; riêng ông, ông lại viết rằng, đây là Hồi Ký Của Một Thằng Hèn; tại sao ạ?

Nhạc sĩ Tô Hải: Cuốn hồi ký này, chủ yếu tôi chỉ viết về sự hèn của tôi thôi. Hèn của tôi vì sống trong một xã hội mà suốt cả cuộc đời mình – cho tới khi về hưu – tôi mới dứt ra được. Trước kia, ăn lương của đảng và nhà nước, mình cứ phải viết những điều mình không muốn viết để tồn tại. Tôi cũng giống rất nhiều anh em khác, cuối đời mới thấy mình cần phải soi lại mình. Hành động soi lại mình này tôi đã làm từ 15-20 năm nay nhưng tôi không dám đưa ra ở trong nước, cho nên phải đưa ra ở ngoài nước. Nếu tại Việt Nam được tự do sáng tác, tự do xuất bản thì tôi in ở trong nước chứ tôi đâu phải đưa ra ngoài. Tới hôm nay, sách chưa ra mắt độc giả mà báo chí tại Việt Nam đã chửi tôi rồi. (Ho sù sụ). Tôi xin lỗi dạo này tôi hơi yếu nên hay ho và nói năng không lưu loát.

 

ĐQAT: Đọc hồi ký của ông, độc giả thấy ông vào lúc tròn đôi mươi đã nhìn lá cờ đỏ sao vàng như biểu tượng niềm tin của dân tộc, nhưng sau này ông nói rằng, cụ thân sinh ra ông từng bảo ông rằng “theo Cộng Sản mà thất bại trở về thì cụ thân sinh ra ông sẽ tống ra ngoài cửa”. Hẳn rằng lúc bấy giờ, cụ thân sinh ra ông đã ý thức được sự tác hại của Cộng Sản đối với đất nước?

Nhạc sĩ Tô Hải: Bố tôi lúc bấy giờ làm trong ngành bưu điện, nên ông có nhiều sách báo ở bên Tây gửi sang thành ra ông đọc được nhiều và tôi cũng đọc theo. Hai bố con chúng tôi có hai quan điểm rất đối lập nhau. Lúc bấy giờ, không chỉ riêng tôi, mà cả Vua Bảo Đại và các nhà cách mạng lão thành cũng đều thấy cái ông Nguyễn Ái Quốc sau đổi tên thành Hồ Chí Minh là người yêu nước chứ chẳng phải là Cộng Sản gì cả. Nhất là ông Hồ lại còn giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương và thành lập Chính phủ Liên hiệp với sự tham gia của nhiều người không Cộng Sản. Bố tôi thì bảo “mày bị lừa” và cũng chính câu nói của ông bố tôi đã đẩy tôi đi theo ngọn cờ đỏ sao vàng. Nói thật, đó là tự ái của tôi lúc bấy giờ mới 18 tuổi. Thế cho nên tôi tiếp tục theo Cộng Sản. Cho tới thời kỳ Cải cách Ruộng đất thì tôi vỡ mộng và tôi bắt đầu viết..." (ngưng trích)

.

Trong khi đó, trưởng thành trong khói lửa Miền Nam, có một nhà thơ độc đáo. Bài viết của ĐQAT về “Lê Thị Ý: Tác giả ‘ngày mai đi nhận xác chồng’” đã cho thấy một hình ảnh khác của cuộc chiến. Lúc đó là cuối thập niên 70, trong bối cảnh chiến tranh lên cao điểm, ca khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu” do Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của Lê Thị Ý. Nhà thơ Lê thị Ý xuất thân trong một gia đình văn nghệ. Người anh lớn là nhà thơ Vương Đức Lệ, người chị lớn là nhà văn Phượng Kiều và cô em gái là nhà văn Lê Thị Nhị. Lê Thị Ý làm thơ rất sớm, từ lúc còn học trung học và viết đều hơn khi theo gia đình vào Nam năm 1954. Tháng 11 năm 2010, nhân dịp từ California đi Virginia, tác giả Đinh Quang Anh Thái nói chuyện với nhà thơ Lê Thị Ý.

 

Trích nơi trang 71-72 của “KÝ 3” khi nhà thơ trả lời ĐQAT về duyên khởi bài thơ:

“Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku. Thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep; hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình..." (ngưng trích)

 

Bài thơ đó nơi đây, chúng ta ghi lại nửa sau bài thơ “Thương Ca 1”, với 10 dòng thơ cuối bài thơ (trang 74-75):

"...Dài hơi hát khúc thương ca

Thân côi khép kín trong tà áo đen

Chao ơi thèm nụ hôn quen

Đêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau

Chiếc quan tài phủ cờ màu

Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng

Em không thấy được xác chàng

Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng

Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.”"

Trong khi giọng thơ Lê Thị Ý rất buồn, thơ của Bùi Minh Quốc rất mạnh mẽ. Tuyển tập “KÝ 3” ghi lại ngôn ngữ của nhà thơ này qua bài “Bùi Minh Quốc: tiếng thét trong thơ” nơi trang 189:

 

“Nhà thơ Bùi Minh Quốc đã nhiều lần uất ức gào lên trong thơ của ông:
 

Tổ quốc hỡi tình chi đau đớn mãi

Con yêu người, ngục tối nuốt trời xanh

Ôi tổ quốc vào tay quỷ dữ

Tiếng hát tự do uất nghẹn khắp thân mình.

 

và Bùi Minh Quốc cũng đã thét lên:

 

Đảng… chỉ tay,

Quốc Hội… giơ tay,

Mặt Trận… vỗ tay,

Chính Phủ… ra tay,

Doanh nghiệp nhà nước… ngửa tay,

Công an… còng tay,

Tội phạm… bắt tay,

Báo chí… chùn tay,

Trí thức… phẩy tay,

Đồng đội… cụt tay,

Quan chức… đầy tay,

Dân… trắng tay.

 

Vài dòng tiểu sử Bùi Minh Quốc được Đinh Quang Anh Thái ghi lại như sau, nơi trang 190:

“Bùi Minh Quốc còn có bút hiệu là Dương Hương Ly, sinh năm 1940 tại Hà Tây. Ông làm thơ ngay từ thủa nhỏ và nổi tiếng rất sớm. Bùi Minh Quốc và vợ là Dương Thụy Xuân Quỳ thuộc vào thế hệ của những người gắn liền với “huyền thoại” mà giới lãnh đạo cộng sản Hà Nội gọi là “các văn nghệ sĩ hy sinh cho cuộc kháng chiến chống Mỹ,” nhưng thực chất chỉ là cuộc xâm chiếm miền Nam, đưa cả nước quy về một mối dưới chế độ toàn trị của đảng cộng sản. Bà Dương Thụy Xuân Quỳ cũng là một nhà thơ nổi tiếng. Bà đã hy sinh trong chiến tranh, để lại một người con gái tên là Dương Ly Hương. Bùi Minh Quốc dùng tên con gái làm bút hiệu của mình.”

 

Thế hệ trẻ nghĩ gì? Tuấn Khanh là một người cầm bút nổi tiếng trong thế hệ trung niên, bản thân cũng là một nhạc sĩ, nhận định về văn học Miền Nam trước 1975 nơi trang trang 210-211, trích:

 

“…Văn hóa miền Nam bị giằng xé rách rưới, đứng giữ đống bùn lầy, vẫn mỉm cười kiêu hãnh, bất chấp đạo quân chiến thắng năm 1975 đã trút mọi căm thù lên bằng cách đốt, cấm, bắt cả những người viết sách đi tù.

Tôi được nghe rằng sau năm 1990, có một chỉ đạo từ Hà Nội, rằng những gì mà miền Nam đã có, nguồn lực của chế độ mới có thể thay thế, thì phải ra sức thay, để nhấn chìm văn hóa miền Nam vào quên lãng. Chẳng hạn như sách dịch: cuốn Hoàng Tử Bé, bản gốc Le Petit Prince của nhà văn Pháp Antoine De Saint-Exupéry do Bùi Giáng dịch được thay bằng bản mới là Hoàng Tử Nhỏ. Bố Già, nguyên tác The Godfather của Mario Puzo, bản dịch của Ngọc Thứ Lang, thì được thay bằng bản mới là Ông Trùm. Đỉnh Gió Hú, nguyên bản của Emily Bronté do Nhất Linh chuyển sang Việt ngữ thì thay bằng Đồi Gió Hú…

Rõ ràng, có một chủ trương muốn thay thế và cào bằng đối với văn học miền Nam, nhưng có vẻ như sức sống của một giai đoạn văn chương và tri thức của hai nền Cộng Hòa vẫn đứng vững. Những ấn bản được nhặt lên từ bùn lầy, bị xô giật rách rưới, vẫn tỏa sáng kỳ lạ đến tận hôm nay...." (ngưng trích)

 

Có nhiều thông tin trong tuyển tập “KÝ 3” của Đinh Quang Anh Thái để đọc, để quan tâm, để suy nghĩ. Đây là một tác phẩm nên đọc để thấy rằng có rất nhiều điều bất bình tại quê nhà, nơi có nhiều tiếng nói bây giờ chỉ được nghe ở hải ngoại.

 

Độc giả có thể mua sách qua mạng:

https://www.barnesandnoble.com/

với Keywords: “Ky 3” hoặc “Dinh Quang Anh Thai”.

 

Cũng có thể mua qua nhà sách Tự Lực:

14318 Brookshurt St.
Garden Grove CA 92843
Phone: 888-204-7749

.

 

 

 

 

 




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tình thân không giúp chúng ta có thể hiểu hết mọi chuyện về nhau. Đặc biệt là khi khảo sát về các lộ trình tâm có thể dẫn tới những dòng thơ. Có phải thơ là thuần cảm hứng từ những kiếp xưa rơi xuống, hay là từ một chuỗi lý luận phức tạp? Khế Iêm là một trong vài nhà thơ, theo tôi nhận thấy, có lộ trình tâm rất mực phức tạp, đầy những dây nhợ rắc rối y hệt như các dàn phóng phi thuyền vũ trụ của NASA. Nhưng hôm nay, bài này sẽ chọn một phương diện khác của Khế Iêm để suy nghĩ, tập truyện “Lời Của Quá Khứ” (LCQK), một ấn phẩm năm 2020, phiên bản mới của nhà xuất bản Văn Mới 1996. Giao tình của tôi với Khế Iêm có lẽ cũng đã gần 3 thập niên, ban đầu là qua nhà văn Mai Thảo. Là những người mê chữ gặp nhau, nhưng mỗi người là một thế giới riêng. Ngay cả nhiêu năm trước, những khi ngồi với Khế Iêm nơi quán cà phê góc đường Westminster/Euclid ở Santa Ana, niềm vui của tôi là được nghe kể chuyện sách vở, thơ ca… Tôi không phải là học giả nên không ưa suy luận, bản thân chỉ là một nhà
Đây là cuốn sách viết bằng song ngữ Anh-Việt của cư sĩ Nguyên Giác. Sách dày 319 trang vừa được Ananda Viet Foundation (Nam California) xuất bản. Cư sĩ Nguyên Giác tu học với một số thiền sư tiền bối nổi tiếng trước 1975 như Thích Tịch Chiếu, Thích Thường Chiếu, Thích Thiền Tâm và Thích Tài Quang. Cư sĩ Nguyên Giác say mê Thiền, nghiên cứu về Thiền, viết về Thiền và sống chết với Thiền. Ông đã xuất bản tám cuốn sách về Thiền. Nay ở tuổi 68, ông viết cuốn này vì sợ rồi đây sức khỏe suy yếu, không còn khả năng viết nữa. Tuy nhiên ước mơ lớn vẫn là để cho các nhà nghiên cứu ngoại quốc muốn tìm hiểu về Phật Giáo Việt Nam, nhất là Thiền, có tài liệu tham khảo vì hiện nay Anh Ngữ là ngôn ngữ phổ biến khắp thế giới.
Từ lúc nhận sách đem về nhà, trong đầu tôi dường như có cái gì đó còn vướng vướng. Cầm cuốn sách, lật qua lật lại, lật tới lật lui. Vẫn chưa mở sách ra để đọc. Bổng nhiên mắt tôi dừng lại ở cái tựa đề sách “Gặp Gỡ Với Định Mệnh.” À, thì ra chính cái tựa đề này làm cho mình bị khựng lại. Rồi tôi thắc mắc về tựa đề cuốn sách “Gặp Gỡ Với Định Mệnh.” Định mệnh là định mệnh gì? Định mệnh của ai, của dịch giả họ Trịnh hay của tác giả bài văn tuyển dịch, hay của tất cả mọi người? Tôi có nằm trong cái định mệnh đó? Có cái gì đó tương quan tương duyên giữa “định mệnh” trong cuốn sách ngày xưa với “định mệnh” bất ổn của xã hội ngày nay? Chính những thắc mắc đó đã xô đẩy tôi bước vào cuốn sách và đi tìm câu trả lời. Tìm trong mục lục, tôi thấy có bài “Gặp Gỡ Với Định Mệnh” của nhà văn người Mỹ Philip Roth. Tôi vội vàng lật qua trang 47. Và tôi bắt đầu đọc một mạch không ngừng cho đến hết. Dịch giả Trịnh Y Thư rất tử tế, anh đã giới thiệu một cách trang trọng tác giả
“Chúng ta đến xứ sở này xa lạ / ra đi chưa hết lạ / nhưng không bao giờ thôi yêu mến / mặt hồ đại dương / căn nhà chở che hạnh phúc / lối mòn nhỏ ven rừng con ta bước tiên khởi tự do. / Đây là nơi chúng ta hàn gắn mình / Như thợ giày khâu vết thương há miệng / Sau đường dài ngập máu / sau đường dài ngập phân / sau chợ chiều cân xác chết chiến tranh / một triệu tiếng chuông không mua hết oan hồn. / Đây là nơi chúng ta sống đàng hoàng / và chết vào buổi chiều có cánh / bay về một xứ sở đã xa.
Qua cuốn sách này, Kissinger tổng kết những trải nghiệm phong phú qua hơn sáu thập kỷ trong chính trường thế giới. Là một người theo trường phái Hiện thực cực đoan (Hard-core Realist) trong lý thuyết Bang giao Quốc tế, ông đã phân tích theo khảo hướng lịch sử một cách xuất sắc về hệ thống chính trị châu Âu, các nước theo Hồi giáo, Trung Quốc và Mỹ, nhưng không đề cập đến sự phát triển tại châu Mỹ La tinh. Ông kết luận rằng có một hình thái mới trong quan hệ các siêu cường, nó dựa trên hệ thống theo Hoà ước Westphalen, sự cân bằng quyền lực trên toàn cầu và các nguyên tắc không can thiệp, tất cả sẽ là một mệnh lệnh chung cho việc xây dựng trật tự thế giới ngày nay. Tuy nhiên, nhìn chung, Kissinger không thể cung cấp các giải pháp khả thi hay bước đầu hữu ích. Có nhiều lý do để phản luận Kissinger mà bài điểm sách sau đây sẽ đề cập.
Ba mươi tháng Tư năm 1975 là dấu thời gian của những đổi đời, của vinh quang cùng đau khổ. Nhiều câu chuyện đã được kể lại, nhiều hồi ức đã viết về đất nước với chiến tranh quốc cộng và hệ lụy kéo dài. “Cha Vô Danh” [Nxb. L’Harmattan, France 2019, 532 trang] của Phạm Ngọc Lân ghi lại biết bao đổi thay, thăng trầm của đất nước, nhưng có những nét riêng vì trải dài gần ba phần tư thế kỷ từ đầu thập niên 1940 cho đến năm 2015 và qua những nơi ít được nhắc đến như Ba Bình, Lạng Sơn, Bảo Lộc, Vincennes, Toulon, Fréjus, Nouméa.
Chogyam Trungpa Rinpoche (1939-1987) là một trong những đạo sư Tây Tạng đầu tiên mang Phật Pháp đến phương Tây. Năm 1963 được học bổng để du học tại Đại Học Oxford. Năm 1967 sau khi tốt nghiệp Ngài thành lập Trung Tâm Thiền Samaye-Ling tại Scotland với phương pháp thiền áp dụng vào đời sống hàng ngày.
Cuộc đời của Nữ Thiền sư Dipa Ma đã được tác giả Amy Schmidt đem vào tác phẩm “Knee Deep in Grace, The extraordinary Life and Teaching of Dipa Ma”. Sau đó, Tác phẩm nầy được bổ túc thêm để trở thành tác phẩm mang tên “Dipa Ma, The Life and Legacy of a Buddhist Master”. Dipa Ma (1911- 1989) ra đời tại Chittagong, một làng nhỏ nằm về phía Đông xứ Bengal (ngày nay là Bengladesh). Lúc dó Bà mang tên là Nani Bala Barua chớ chưa phải là Dipa Ma.
Bên cạnh mười bài giảng của Thầy Phước Tịnh là mười bài Thiền Ca Chăn Trâu được kẻ nhạc do nhạc sĩ Tâm Nhuận Phúc sáng tác, dựa theo thơ Thầy Tuệ Sỹ. Sách in trên giấy đẹp, khổ vuông 8.5X8.5 inches, dày 90 trang. Sách “Mõ Trâu” do Tâm Nguyên Nhẫn thực hiện chỉ 30 ấn bản để tặng, theo các pháp thoại do Doãn Hương sưu tập lời giảng của Thầy Phước Tịnh về Thập Mục Ngưu Đồ. Doãn Vinh vẽ bìa và phụ bản. Nguyễn Đình Hiếu trình bày. Tâm Tường Chơn biên soạn. Bài này sẽ nhìn Thập Mưu Ngục Đồ qua bản đồ học Phật của Đấng Thế Tôn. Trong hai tạng Kinh A Hàm và Nikaya, Đức Phật đã từng so sánh tiến trình tu tâm như việc chăn bò. Trong Phật Giáo Tây Tạng, cũng có một hướng dẫn tương tự như tranh chăn trâu, nhưng là lộ trình chín giai đoạn chăn voi. / A HÀM, NIKAYA: CHĂN BÒ, THIỀN TÔNG VÀ HẠNH BỒ TÁT/ Trong Kinh Tạp A Hàm SA 1249, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Đức Thắng, Đức Phật dạy về kỹ năng tu tâm tương tự như kỹ năng chăn bò, với 11 pháp người chăn bò cần khéo biết.
Trong những ngày nhàn rỗi cuả tháng 4, vô tình được đọc tác phẩm The Sympathizer (Grove Press New York, 2015) của Viet Thanh Nguyen (sinh năm 1971 tại Ban Mê Thuột), với bản dịch Việt Ngữ của Lê Tùng Châu (23 chương 434 trang), tôi hoàn toàn bị cuốn hút và ngỡ ngàng trước một tiểu thuyết lấy bối cảnh về chiến tranh Viet Nam, nhưng toàn truyện như một bản hòa tấu đủ cung bậc thăng trầm, với nhiều đoạn trường canh vừa có triết tính và thơ mộng, vừa có ý nghĩa sâu sắc và mang tính gợi hướng của thời đại. Chính Viet Thanh Nguyen, một nhà văn người Mỹ gốc Việt đã đánh bại bao nhiêu tác phẩm khác trên đấu trường văn chương và được hội đồng chấm giải Pulitzer vinh danh, trao giải năm 2016...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.