Hôm nay,  

Bạn văn

03/08/202220:46:00(Xem: 6380)
Trích đoạn sách

296723272_1077305259580816_5757076044417732000_n

 


Trong lần về nước đầu tiên, năm 1996, tôi ở Hà Nội ba tuần, gặp gỡ khá nhiều người cầm bút ở đó, từ Dương Tường đến Trần Quốc Vượng, từ Hoàng Ngọc Hiến đến Đỗ Lai Thuý, từ Phong Lê đến Văn Tâm, từ Lê Đạt đến Dương Thu Hương, từ Trần Dần đến Hoàng Cầm, từ Nguyễn Huệ Chi đến Bảo Ninh. Nhưng có cảm giác thân nhất là hai người: Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Xuân Nguyên.

 

Không biết do ai nói, Nguyễn Huy Thiệp biết tôi ở Hà Nội; anh đến nhà tôi trọ ở số 52B đường Nguyễn Khuyến (gần Văn Miếu), chở tôi về nhà anh chơi, ăn trưa và chuyện trò đủ thứ trên trời dưới đất. Anh kể về những ngày tháng lận đận của anh. Về những ước mơ của anh. Anh có vẻ rất tin vào tử vi. Anh nói ông ngoại của anh, căn cứ vào ngày giờ sinh, có thể biết được hậu vận của một người. Khi anh trai của Thiệp mới ra đời, bấm tử vi, ông biết sau, lớn lên, sẽ theo nghiệp võ, nên đặt tên là Thăng với ước mong được thăng quan tiến chức. Còn Thiệp, ông nói sẽ thiên về văn nên đặt tên là Thiệp để chỉ sự quảng giao. Tử vi cũng nói anh sẽ thành công trong văn chương nhưng muộn. Nếu nổi tiếng trước năm 35 tuổi thì có nguy cơ chết yểu hoặc ngồi tù. Ngày hôm sau, Thiệp chở tôi đi thăm viếng các chùa chiền chung quanh Hà Nội, trong đó có chùa Bút Tháp. Chùa vắng tanh. Không thấy ai cả. Đẩy cánh cửa khép hờ, vào chùa, Thiệp thắp một cây nhang rồi kính cẩn vái, miệng lầm bầm cầu nguyện. Vốn vô thần, tôi chỉ đứng nhìn, dửng dưng. Thiệp dí vào tay tôi một cây nhang và bảo: “Cầu đi, anh. Có thờ có thiêng.” Chiều bạn, tôi cũng vái. Xong, quay người lại, tôi thấy một phụ nữ khoảng 5,6 chục tuổi đứng ngay sau lưng, bàn tay xoè, đưa ra phía trước. Tôi không hiểu, bèn nhìn Thiệp. Anh nói: “Bả xin tiền nhang đấy.” Rồi anh đặt vào tay bà một số tiền. Ra ngoài sân, tôi thấy một người đàn ông, cũng 5,6 chục tuổi, đứng bên cạnh chiếc xe gắn máy của Thiệp, bàn tay cũng xoè ra. Tôi hỏi Thiệp: “Chuyện gì nữa đây?” Thiệp chưa kịp trả lời, người đàn ông đã lên tiếng: “Xin quý ông cho ít tiền công giữ xe.” Thiệp lại móc túi ra đưa ông một số tiền. Trưa, đói bụng, Thiệp tấp xe vào một cái quán xập xệ ven đường. Quán chỉ có hai cái bàn thấp và mấy chiếc ghế đẩu. Nhìn, tôi hơi e ngại vấn đề vệ sinh. Nhưng không có chọn lựa nào khác. Thiệp gọi mỗi người một chén cơm và hai quả trứng luộc chấm nước mắm. “Như thế cho an toàn”, anh nói. Ăn vẫn thấy ngon. Giữa bữa ăn, không nhắc đến hai vụ xin tiền ở chùa, Thiệp nói, như giải thích: “Ở Việt Nam, sống khó lắm. Lúc nào đi ra khỏi nhà tôi cũng đều thủ sẵn tiền trong túi. Ở đâu cũng có những người vòi tiền. Có người vô hại. Nhưng cũng có những kẻ rất nguy hiểm. Để được yên thân, mình phải có tiền nhét vào mõm chúng.” Chiều, về, anh chở tôi đến nhà một người bạn của anh ở Bát Tràng. Anh lấy một cái đĩa bằng đất sét rồi vẽ chân dung tôi trên đó. Bức đầu, anh không hài lòng, anh bảo tôi ngồi tiếp để anh vẽ bức khác. Xong, anh nhờ bạn bỏ vào lò nung. Mấy ngày sau, anh mang hai cái đĩa đến nhà tôi trọ tặng tôi. Tôi rất cảm động.

 

Nhớ, sau khi vẽ xong, anh ghi trên đĩa mấy chữ “Tặng Nguyễn Ngọc Tuấn”. Tôi cười, hỏi anh, “Sao không là Nguyễn Hưng Quốc?” Anh cười, “Bộ anh muốn tôi chết hả?” Té ra, anh sợ cái tên Nguyễn Hưng Quốc. Nên nhớ, lúc ấy, dưới bút hiệu Nguyễn Hưng Quốc, tôi chưa viết gì về chính trị, và cả gần mười năm sau, tôi mới bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam.

 

Tháng 2 năm 2008, Nguyễn Huy Thiệp gửi thư xin tôi địa chỉ email của Greg Lockhart, người dịch một tuyển tập truyện ngắn của anh sang tiếng Anh năm 1992. Anh có vẻ tuyệt vọng trên con đường đi ra với thế giới. Anh muốn tìm một người da trắng dịch anh và làm trợ lý xuất bản cho anh để “quảng bá tác phẩm và chinh phục các danh hiệu giải thưởng.” Anh cho chỉ có Greg mới làm được điều đó. Tôi liên lạc với Greg. Greg có vẻ rất lạnh nhạt. Anh kể trước đây, tuyển tập truyện ngắn của Thiệp do anh dịch, tuy được Oxford University Press, một tên tuổi lớn, xuất bản, số sách bán được rất ít. Hậu quả là tiền nhuận bút dành cho cả tác giả lẫn dịch giả đều thấp. Thấp đến độ, sau đó, đi Hà Nội, gặp Thiệp, anh cho Thiệp luôn cả số tiền trả cho dịch giả. Có vẻ như Thiệp không biết điều đó. Thời ấy, người Việt còn biết rất ít thế giới bên ngoài. Bị ám ảnh bởi sự giàu có của những nhà văn bestseller ở ngoại quốc, ai cũng tưởng sách dịch của mình sẽ bán được cả triệu bản và số tiền nhuận bút sẽ lên đến hàng triệu đô. Thiệp cũng thế. Khi nhận số tiền ít ỏi, anh ngỡ ngàng. Tệ hơn, theo Greg, dường như anh có ý nghĩ là bị Greg ăn chận. Quan hệ giữa hai người xấu hẳn. Lần sau, Greg đi Việt Nam, Thiệp không muốn gặp. Điều đó để lại trong Greg một nỗi cay đắng khó phai nhạt. Nói chuyện với tôi, Greg không nén được chua chát.

 

Sự hiểu lầm của Nguyễn Huy Thiệp, tôi nghĩ, cũng là sự hiểu lầm của khá nhiều người Việt Nam, nhất là ở thế kỷ trước. Nó chỉ đáng tiếc. Nhưng không đáng trách.

 

Ở Hà Nội, tôi thân với Phạm Xuân Nguyên nhất. Có lẽ vì anh cùng tuổi, lại chuyên viết phê bình, và quan trọng nhất, tính tình anh rất phóng khoáng. Cứ vài ngày tôi lại gặp anh. Tôi không biết giờ giấc làm việc của Nguyên ở Viện Văn học như thế nào nhưng chỉ ới một tiếng là thấy anh xuất hiện. Mà không phải chỉ với tôi. Với nhiều người khác cũng thế. Rất đông người cầm bút ở hải ngoại về Hà Nội gặp Nguyên và được Nguyên tiếp đãi một cách ân cần. Ai cũng khen. Anh sống như một cuộc rong chơi. Cực kỳ tốt với bạn bè. Nhưng, tôi nghĩ, chắc cũng mất rất nhiều thì giờ cho bạn bè. Có lẽ vì vậy anh viết không nhiều. Và cũng không đúng với cái tầm đáng lẽ anh có thể có. Tôi nghĩ anh có nhiều tố chất cho một nhà phê bình giỏi: Thông minh, nhạy bén và uyên bác. Tôi nghĩ trí nhớ của anh hẳn tốt lắm. Anh thông thạo cả tiếng Nga lẫn tiếng Anh và tiếng Pháp dù anh không nói được ngôn ngữ nào cả. Anh hoàn toàn tự học. Tôi thường đọc các bản dịch của anh với sự ngưỡng mộ.

 

Gặp nhau nhiều lần nhưng tôi vẫn không biết anh nghĩ gì về mình. Anh hoạt ngôn nhưng cũng khá kín đáo, hiếm khi bày tỏ chủ kiến. Thường, chúng tôi chỉ nói chuyện về sinh hoạt văn học chung chung, những điều, do sống ở nước ngoài, tôi không được cập nhật. Đến khi đọc một bài phỏng vấn anh trên Talawas ngày 21.4.2005, tôi mới biết những gì anh nghĩ:

 

Một số người ở hải ngoại đã nuôi ảo tưởng rằng nếu được tự do phổ biến thì văn học hải ngoại sẽ như một làn gió mới, gây nên những chấn động gì kinh khủng lắm. Có lẽ không như vậy. Gây chấn động bây giờ có phải dễ đâu. So với những sáng tác của hải ngoại thì có khi lối viết phê bình của Nguyễn Hưng Quốc lại gây tác động với trong nước nhiều hơn.(1) Ông Quốc hội tụ được cả ba điểm: Một, tiếp thu được những lí thuyết mới; hai, nắm chắc văn học Việt Nam, vì lí thuyết giời mà không nắm chắc văn học Việt Nam thì cũng hỏng; ba, có một lối viết vừa là khoa học vừa là văn chương.(2)

Ở Sài Gòn, tôi thân với nhiều người hơn: Nguyễn Viện, Nguyễn Quốc Chánh, Trần Tiến Dũng, Thận Nhiên (thời anh sống ở Việt Nam), Lý Đợi, Bùi Chát, v.v… Tính tình mỗi người mỗi khác, nhưng tất cả đều có một phong thái chung: Tự do. Họ khác hẳn anh em cầm bút ở miền Bắc, những người cán bộ, mang văn hoá cán bộ, lúc nào cũng thuận thảo với dòng chính thống: Ngay cả khi họ phê phán chính quyền, sự phê phán ấy dường như lúc nào cũng có mức độ. Phê phán từ bên trong. Ở Sài Gòn thì khác. Ngay trước 1975, đã hình thành một tầng lớp trí thức và văn nghệ sĩ hoàn toàn độc lập với chính quyền. Họ sống bằng việc viết lách của họ. Họ thanh thản. Họ ung dung. Họ không sợ ai cả. Sau năm 1975, lớp cầm bút trẻ tuổi cũng giữ được truyền thống ấy. Họ không bon chen để được xuất hiện trên báo chí chính thống. Họ viết và tự in trên những bản photocopy nhoè nhoẹt. Nếu không, họ chỉ phổ biến trên internet. Họ vẫn vui. Những buổi nói chuyện với họ lúc nào cũng rộn những tiếng cười. Có một điều tôi để ý: tất cả bạn bè ở Sài Gòn đều gọi tôi là Quốc. Sách tặng, họ ghi rõ: Tặng Nguyễn Hưng Quốc. Có vẻ như họ không sợ cái tên Nguyễn Hưng Quốc như bạn bè ở Hà Nội.

Thời gian ở Pháp, tôi thân nhất với Trần Vũ. Hầu như tuần lễ nào cũng gặp nhau. Và gặp nhau là nói chuyện văn học sôi nổi. Sinh năm 1962, anh qua Pháp từ năm 17 tuổi, tiếng Pháp rất giỏi. Nhưng tiếng Việt của anh cũng cực kỳ thành thạo. Cái thành thạo của một nhà văn có tài. Tôi cho anh là một trong những người viết truyện ngắn hay nhất của thế hệ anh, trong cũng như ngoài nước, nói chung. Có thể nói Trần Vũ có ba đam mê chính. Thứ nhất là tiếng Việt. Anh thường nói anh chỉ thích làm tình với phụ nữ Việt Nam. Lý do? Hãy nghe anh giải thích: “Em thích nghe rên bằng tiếng Việt.” Hẳn nhiên đó chỉ là một lời nói đùa. Nhưng nó cũng xuất phát từ một ám ảnh: hạnh phúc gắn liền với tiếng mẹ đẻ. Thứ hai là đam mê lịch sử. Trên tủ sách của anh có rất nhiều sách về lịch sử, đặc biệt lịch sử chiến tranh. Đó là lãnh vực anh có kiến thức rất rộng. Anh có thể nói say sưa về các trận đánh nổi tiếng ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Dù tôi cũng thuộc loại đọc sách nhiều, nghe anh nói, có lúc tôi không khỏi bối rối. Và, thứ ba, anh rất thích rượu đỏ. Ngày nào anh cũng uống. Từ sáng đến tối. Liên quan đến rượu, sực nhớ một chuyện do Trần Vũ kể trong một cuộc phỏng vấn:

Buổi tối đó, chúng tôi tiễn Nguyễn Hưng Quốc đi Úc, trong cái quán nhỏ gần bờ sông Seine. Mai Thảo ăn ít. Chúng tôi uống với ông. Bình thường anh Quốc không uống rượu. Nhà phê bình, giống hầu hết giới phê bình, muốn tỉnh táo, mà điều này sáng tác ghét thậm tệ. Tuy nhiên, tối đó, Nguyễn Hưng Quốc cố gắng theo chúng tôi. Anh không gìn giữ, không chiếu lệ, mà uống thật tình, vì anh cũng thương Mai Thảo. Nếu lý trí Nguyễn Hưng Quốc gần với Võ Phiến, tình cảm anh dành cho Mai Thảo. Uống chia tay, như một vĩnh quyết. Đến một lúc, anh ngã bật ra bàn và nôn thốc tháo, rồi bất tỉnh. Chúng tôi kêu hầu bàn thay khăn, kêu thêm rượu. Khuya lắm, đến khi quán đóng cửa, phải ra về, tôi khiêng vai Nguyễn Hưng Quốc, trong lúc Mai Thảo khiêng hai chân, chúng tôi khiêng dọc bờ sông phủ hơi ẩm của đêm hè. Chúng tôi khiêng trong im lặng. Không ai nói với ai lời nào. Cho đến khi ra xe, tôi muốn chở Mai Thảo về trước, nhưng ông lắc đầu: ‘Đưa Quốc về nhà.’ Gương mặt ông nhăn nhúm vì buồn.

 

Tối đó, tôi say khướt nên không biết Trần Vũ có “hư cấu” thêm gì không. Nhưng nghe anh kể, tôi vừa xấu hổ vừa thấy vui. Một kỷ niệm đẹp. Với Trần Vũ. Và với cả Mai Thảo nữa.

 

Tôi qua Mỹ nhiều lần, lần nào cũng gặp nhiều bạn bè, chuyện trò không ngớt. Tôi thích cái điềm đạm của Trương Vũ, cái dí dỏm của Nguyễn Thị Hoàng Bắc, cái chân tình của Nguyễn Thị Thanh Bình, cái hào phóng của Hoàng Đình Bình, sự uyên bác của Đỗ Quý Toàn, sự nhẹ nhàng đầy phong thái thiền của Nhã Ca, những mẩu chuyện thời trẻ của Trần Dạ Từ, sự nho nhã của Phạm Phú Minh, sự nhiệt tình của Ngự Thuyết, vẻ bụi bặm của Vương Ngọc Minh, sự trẻ trung của Nguyễn Hoàng Nam, cốt cách nhà giáo của Bùi Vĩnh Phúc, sự từ tốn của Hoàng Ngọc Biên, v.v... Hai người tôi thấy gần gũi nhất là Nguyễn Xuân Hoàng và Võ Đình.

 

Tôi gặp Nguyễn Xuân Hoàng trong chuyến đi Mỹ lần đầu vào năm 1989. Anh rủ tôi đi uống cà phê. Tôi kể là hồi nhỏ, từ Quảng Nam, đọc tạp chí Văn có thời anh làm thư ký toà soạn, tôi rất thán phục và mơ có ngày nào đó được gặp anh. Anh cười: “Bây giờ gặp rồi, chắc Quốc thất vọng lắm nhỉ?” Năm 2007, gặp lại anh ở San Jose, anh lại tâm sự: “Thế hệ của Quốc được đào tạo bài bản chứ thế hệ của tôi, hồi đó ở Sài Gòn, nói chuyện văn học Tây phương mà có hiểu Tây phương mấy đâu. Phần lớn chỉ làm dáng.” Sự thành thực và khiêm tốn của Nguyễn Xuân Hoàng bao giờ cũng làm tôi cảm động. Không có gì đáng ngạc nhiên khi hầu hết những người cầm bút tôi quen biết đều quý mến anh.

 

Năm 2010, Nguyễn Xuân Hoàng được mời viết blog trên đài VOA. Trong một bài nói đến giới cầm bút ở hải ngoại, anh có nhắc đến tôi: “Chữ nghĩa đanh thép, lý luận sắc bén như Nguyễn Hưng Quốc không phải thời nào cũng có.” Tôi dùng lời nhận xét ấy in ở bìa sau cuốn Phản tỉnh và phản biện (2011). Sau, nói chuyện với anh trong một lần cà phê ở San Jose, tôi cám ơn anh về nhận xét ấy. Anh chỉ cười. Thật lành.

 

Tôi chỉ gặp Võ Đình một lần duy nhất ở Washington D.C. vào năm 1989. Sau buổi gặp đó, viết thư cho Võ Phiến, anh nhận xét về tôi: “Viết được như chàng này thật hiếm hiện nay. Sáng sủa mà thơ mộng, mạch lạc mà thiết tha, khúc chiết mà đằm thắm, cứng cáp mà hiền hoà. Sau buổi nói chuyện ở GMU – George Mason University, ‘họp mặt du đãng’ ở quán giang hồ của vợ chồng [Ngô Vương] Toại, tôi ngâm ‘thưởng’ chàng ta 4 bài thơ. Một trong 4 bài (tôi nói để nhớ bài ‘Sao có tiếng sóng ở Võ Phiến’) là ‘Tống biệt hành’ của Thâm Tâm.” Võ Phiến chuyển nhận xét ấy cho tôi xem. Trong bức thư gửi Võ Đình ngày 1.5.1989, Võ Phiến kể lại chuyện đó: “À, tôi có làm một chuyện lếu láo: Đọc cái thư anh khen Nguyễn Hưng Quốc, tôi có sao lại đoạn đó, gửi cho Quốc mà chưa kịp hỏi ý kiến anh. Tôi chắc anh đồng ý: Mình làm cho người khác ‘sướng’ được một phát, tại sao không? Vả lại ý kiến anh về N.H. Quốc giống ý tôi. Anh chàng trẻ tuổi mà điềm đạm, rất thông minh, chắc chắn sẽ nổi đình nổi đám.”

 

Tôi và Võ Đình bàn với nhau: Sẽ xuất bản những bức thư Võ Phiến gửi cho tôi và cho Võ Đình sau khi Võ Phiến qua đời. Tất cả các bức thư ấy đều đã được đánh máy và layout. Sẵn sàng. Tiếc, Võ Đình lại đi trước Võ Phiến. Khi Võ Phiến mất, vợ Võ Đình, chị Trần Thị Lai Hồng, giận Võ Phiến chuyện gì đó, không muốn in, nên, cuối cùng, khi xuất bản vào năm 2015, chỉ có phần thư Võ Phiến gửi tôi.

 

Nguyễn Hưng Quốc


(Trích từ cuốn Sống và Viết ở Hải Ngoại, Lotus Media xuất bản 2022, phát hành toàn cầu trên Amazon.com)

https://www.amazon.com/S%E1%BB%90ng-Vi%E1%BA%BEt-H%E1%BA%A2i-Ngo%E1%BA%A0i-Vietnamese/dp/108805076X/ref=sr_1_21?crid=DM8DMJQSNTKO&keywords=nguyen+hung+quoc&qid=1657615885&s=books&sprefix=nguyen+hung+quoc%2Caps%2C366&sr=1-21

 

Chú thích:

 

(1)   Tìm “bằng chứng” cho cái Phạm Xuân Nguyên gọi là “tác động” ấy, tôi bắt gặp những lời kể này của tiến sĩ Trần Ngọc Hiếu trên facebook của ông ngày 7.1.2022: “Quãng thời gian đầu học cao học, tôi bị hoang mang cao độ đến mức đã có lúc muốn từ bỏ việc ở lại khoa để về phổ thông dạy. Nhưng lại nhờ đọc sách mà tôi tìm thấy lối thoát. Hồi đó, chị Hoà có cho tôi xem một cuốn sách photo rất mờ mịt - Văn hc Vit Nam t đim nhìn h(u h)in đi của Nguyễn Hưng Quốc. Những bài tiểu luận gây sốc ngay từ nhan đề như Văn học trong một nước mù chữ, Viết văn với cây búa... lần này không chỉ là cú hích. Nó là một cái gì đó rung chấn rất lớn đối với tôi. Thời đó, tìm đọc sách của Nguyễn Hưng Quốc ở Việt Nam là cả một cuộc săn tìm. Khi tôi quyết định nhận đề tài cao học làm về thơ đương đại, tôi hỏi thầy Chu Văn Sơn để mượn cuốn Thơ, v.v. và v.v. của Nguyễn Hưng Quốc. Cuốn sách này làm tôi ngơ ngẩn vì hoá ra cả trong nghiên cứu, phê bình, tiếng Việt cũng có thể đẹp một cách lạ lùng. Cái đẹp của một ngôn ngữ sắc, thẳng, logic và giàu tính khiêu khích. Tôi tìm được rất nhiều cảm hứng để thay đổi lối viết nhờ đọc Nguyễn Hưng Quốc. Tôi hiểu, giờ, không còn là lúc viết để phô diễn vài thứ tài hoa kiểu lãng mạn chủ nghĩa, viết là đẩy đến độ căng của tư duy.”

(2)   http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4337&rb=0202

 

 

 

Chúng tôi thật vinh hạnh và danh dự khi được Giáo sư Nguyễn Bá Chung yêu cầu điểm sách đặc biệt này của một trong những bậc Thầy được tôn kính và ngưỡng mộ nhất ở Việt Nam. Cuốn sách có tên DREAMING THE MOUNTAIN – GIẤC MƠ TRƯỜNG SƠN của Tuệ Sỹ...
Mẩu đối thoại trên là của chàng thanh niên 27 tuổi là Ralph White với nhân viên Đại sứ quán Hoa Kỳ trong những ngày cuối tháng Tư năm 1975 của miền Nam Việt Nam trong cuốn hồi ký Thoát Khỏi Sài Gòn (Getting Out of Saigon) của ông vừa được nhà xuất bản Simon and Schuster phát hành...
Hai mươi lăm truyện trong tập sách, ngoài những mảnh đời oái oăm của thế thái nhân tình trong đời sống xã hội hiện tại. Bạn và tôi còn đọc được những câu chuyện thú vị như: Vong Hồn Trên Sông, Đứa Con Phù Thủy, Đôi Mắt Tiền Kiếp, Hẹn Hò… Những câu chuyện có tính cách hoang đường, ma mị, xảy ra ở một quận lỵ heo hút nào đó của tỉnh Quảng Trị, nơi tác giả sinh ra và đã có một thời thơ ấu êm đềm...
Trust (tạm dịch là Niềm Tin) là cuốn sách thứ hai, đoạt giải Putlizer 2023, thuật lại những khúc mắc của chủ nghĩa tư bản thời hiện đại. Mở đầu bằng sự việc dẫn đến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929, sau những đợt bùng nổ và sụp đổ của lịch sử kinh tế từ quan điểm của từng cá nhân. Trust là một tác phẩm hiện đại táo bạo — trong suốt bốn màn, mỗi màn được đóng khung như một “cuốn sách” — tìm cách phá bỏ những quy ước chắc nịch làm nền tảng cho những huyền thoại về sức mạnh của nước Mỹ.
Tôi đưa quyển sách cho con trai, nói con đọc đi. Nó đọc một hai truyện gì đó, rồi nói, ngôn ngữ cũ mèm má ơi. Có vài chỗ khó hiểu nữa. Phải, ngôn ngữ “cũ mèm”, và có vài chỗ “khó hiểu” nữa, ngay cả với tôi. Con tôi thuộc thế hệ của Doraemon rồi Harry Potter. Tôi thuộc thế hệ của Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam, của những truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc trên tạp chí Hương Quê một thời xa lơ xa lắc có lẽ đã trên dưới 60 năm. Cho nên tôi đã miệt mài “ôm” quyển sách trong nhiều ngày liên tục, rảnh được lúc nào là đọc, không theo thói quen con-cà-con-kê của mình...
Tôi chẳng nhớ là mình đã đi vào Thiền tự bao giờ, chỉ biết rằng những ý tưởng nhuốm màu Thiền đã nhật tích nguyệt lũy thấm dần vào tôi như những giọt nước rơi liên tục làm lõm phiến đá. // I cannot recall when I entered Zen Buddhism. I only know that, like drops of water persistently indenting a stone, Zen-like thoughts have been seeping into my mind day by day and month by month.
Tác giả là Ben Kiernan, sinh năm 1953, từng là Giáo sư “Sử học và Các Môn Học Quốc tế và Vùng” tại Đại học Yale nổi tiếng. Ông từng lập ra Chương trình về Diệt Chủng Cambodia và Chương Trình Nghiên Cứu Về Diệt Chủng. Sách của ông trước đây bàn về diệt chủng ở Cambodia cũng như trong những giai đoạn khác của lịch sử loài người
Chúng ta phần lớn từng học sử theo niên đại với nhiều chi tiết tên tuổi cần phải nhớ để đi thi, hay đọc sử nước nhà qua lăng kính của một người công dân gắn bó với quê hương và di sản tổ tiên để lại. Tác giả Goscha là một nhà khoa bảng chuyên về sử học từng được một giáo sư sử học quốc tế nổi tiếng người Việt (từng là giáo sư của Miền Nam Việt Nam) hướng dẫn, và từng huấn luyện và khảo cứu ở nhiều nước liên hệ đến Việt Nam (Pháp, Mỹ, Canada, Úc, Thái Lan). Được một chuyên gia tầm cỡ như thế trình bày những câu chuyện về đất nước, ông bà của của chính chúng ta qua lăng kính đặc biệt của một người ngoại cuộc giúp chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn, và không kém phần thú vị về một đề tài tuy cũ nhưng vẫn còn nhiều điều mới mẻ.
Tuy nhiên, cuốn “Sống Với ‘Thán Dị Sao’ Của Ngài Thân Loan” còn có một phần rất đặc biệt mà chính phần này làm cho tôi thật sự thích thú. Đó là bản dịch tiếng Việt do HT Thích Như Điển thực hiện với đầy đủ 18 chương của cuốn “Thán Dị Sao” từ bản tiếng Nhật hiện đại của Giáo Sư Yamazaki Ryuumyou.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.