Hôm nay,  

LM Hồ Ngọc Cẩn: Tuồng Bảy Mối Tội Đầu & Trương Minh Ký: Tuồng Joseph

25/11/202321:05:00(Xem: 9977)

 

LM Hồ Ngọc Cẩn: Tuồng Bảy Mối Tội Đầu

Trương Minh Ký: Tuồng Joseph

 

Phan Tấn Hải

 

 
blankTừ phải: GS Trần Huy Bích, GS Nguyễn Văn Sâm, và nhà văn Trần Ngọc Ánh (phu nhân của GS Sâm).
    

Giáo sư Nguyễn Văn Sâm vừa ấn hành một tác phẩm có nhan đề sách rất dài: “Tuồng Bảy Mối Tội Đầu của LM Hồ Ngọc Cẩn và Tuồng Joseph – 1887 của Trương Minh Ký.” Cuốn sách này là tuyển tập 2 vở tuồng được viết trong tinh thần Công Giáo của vùng đất Nam Bộ của thời kỳ cuối thế ký thứ 19 và đầu thế kỷ 20. Đây là ấn bản 2023 do GS Nguyễn  Văn Sâm giới thiệu và chú giải.

 

Chúng ta nói rằng tuyển tập tác phẩm trên là viết trong tinh thần đạo Công Giáo, thực ra vẫn có dị biệt giữa 2 vở tuồng trên. Mỗi vở tuồng vẫn có một giá trị riêng biệt. Một phần, mục đích của Linh mục Hồ Ngọc Cẩn khi soạn ra vở Tuồng Bảy Mối Tội Đầu là khác với ý định văn học của Trương Minh Ký khi soạn vở Tuồng Joseph. Ngay nơi dòng đầu tiên trong phần Tiểu Dẫn của Tuồng Bảy Mối Tội Đầu, LM Hồ Ngọc Cẩn đã nêu ngay ra thẩm quyền siêu nhiên: “Hẳn như Lời Kinh Thánh dạy, vì ma quỉ ghen ghét, nên sự chết đã vào thế gian: nó đã hỏng mất thiên đàng, nó lại muốn cho loài người đồng sa hỏa ngục.” (trang 51) Do vậy, khi nói là tuồng, nghĩa là một sản phẩm nghệ thuật sân khấu để giải trí, những dòng chữ viết của LM Hồ Ngọc Cẩn có ý tuyên thuyết giáo lý Cơ Đốc hẳn hoi.

 

Phía nhà văn Trương Minh Ký lại khác. Vở Tuồng Joseph của họ Trương chỉ là “lấy sự tích đạo” chứ không phải “tuồng đạo.” Giáo sư Nguyễn Văn Sâm giải thích nơi trang 6 về Trương Minh Ký khi viết Tuồng Joseph: “Lấy tích từ sách truyện nầy kia hay từ đạo Phật, đạo Chúa, đạo Nho là chuyện bình thường. Cũng như ta nói Hàn Mặc Tử là tác giả chịu ảnh hưởng từ đạo Thiên Chúa chứ không nói đó là nhà văn Công Giáo…”

  blank              GS Nguyễn Văn Sâm ký tên lên sách.

Chúng ta có thể thấy văn phong dị biệt giữa Tuồng Bảy Mối Tội Đầu của LM Hồ Ngọc Cẩn và Tuồng Joseph – 1887 của Trương Minh Ký. Khởi đầu Tuồng Joseph của Trương Minh Ký là những lời nói thơ mộng của Joseph, nơi trang 8:

 

Phong điền võ thuận

Quốc thới dân an.

Trong vẻo nước sông vàng,

Lặng trang trời biển đỏ.

Joseph là tên mỗ,

Quê quán ở Chanaan.

Như tôi: Thung dung rèn tới bực tài năng,

Kềm thúc luyện theo đàng nhơn đức,

Thỉ chung một mực

Trung hiếu hai đàng.

Hà! Nghĩ cha già mừng được còn an.

Nhớ mẹ yếu thảm thương sớm mất.

Chừ cũng đà khuya rồi phải vào ma nghỉ…(hết trích)

 

Đọc những dòng thơ tự sự đầu vở tuồng, chúng ta không thấy chất đạo Công Giáo, trong khi nếu nói về hình ảnh thì duy có chữ “Chanaan” là một vùng đất Trung Đông, có tên trong Kinh Thánh. Nhưng nghĩ kỹ, chỉ qua những lời nói mở đầu này, có thể suy đoán là tác giả viết trong bầu không khí Nho giáo, khi nghĩ tới nhờ ơn đức của vua nên mới có “phong điền võ thuận, quốc thới dân an.”

 blank                        Bìa sách.

Trong khi đó, ngay trang đầu của Tuổng Bảy Mối Tội Đầu, linh mục Hồ Ngọc Cẩn đưa ngay văn phong nhà thờ Ky tô vào từ dòng đầu, với nhân vật nói mở đầu cho tuồng là Thiên Thần:

 

Bạch: Trung thần hưởng phước tại thiên đình

Ngụy quỉ lưu giam chốn địa hình

Lương thiện hà giao nhơn bất nghĩa,

Thanh liêm khỉ mộ chúng khuy tình.

Nói: Hỉ hoan nơi cõi thọ

Nhàn lạc chống quang vinh.

Hằng chầu chực Chúa chí linh.

Cùng giữ gìn người dương thế

Tính linh thiêng phụng quyền Thượng đế…(hết trích)

 

Nghĩa là, ngay dòng đầu, LM Hồ Ngọc Cẩn nói tới thiên đình (cõi trời), nói tới địa ngục (có quỉ, có lưu giam chốn địa hình), lại nói rằng “chầu chực Chúa chí linh” và rồi “phụng quyền Thượng đế.” Đó là những khái niệm của thiện thắng ác, của những người Ky tô hữu phụng quyền Thượng đế. Như thế, hoàn toàn mất hẳn tính nhà Nho trong những lời nói đầu vào tuồng, mà chỉ là văn phong Kinh Thánh Cơ Đốc.

 

Tuyển tập được Giáo sư Nguyễn Văn Sâm phát hành từ tuần qua trong vòng các thân hữu, và trong giới học giả thân quen. Trong đó, Giáo sư Trần Huy Bích đã theo sát để hỗ trợ, vì GS Nguyễn Văn Sâm vừa rời bệnh viện sau một kỳ nằm bệnh viện nhiều tuần lễ.

 

Hai vở tuồng trong tuyển tập có nhiều giá trị về văn học sử đối với những người nghiên cứu về thời kỳ đầu của văn học Công Giáo Nam Bộ, và đồng thời cũng có giá trị đặc biệt với những người nghiên cứu về tiến trình sơ kỳ của công cuộc hình thành chữ quốc ngữ tại Việt Nam.

 

Các độc giả quan tâm, có thể liên lạc với tác giả qua:

GS Nguyễn Văn Sâm – Email: [email protected]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường của nhà báo Kiều Mỹ Duyên đã chính thức phát hành tại Quận Cam. Tuyển tập dày 500 trang đã gói trọn tấm lòng của một người rất mực yêu thương cuộc đời, và với quê nhà.
Kể từ năm 1963 đến nay (2021) là hơn nửa thế kỷ. Các kho lưu trữ tài liệu mật của các bộ Ngoại Giao, Quốc Phòng, và cục Tình báo Trung Ương Hoa Kỳ đã giải mật cho công chúng và giới nghiên cứu được tự do tiếp cận, vào xem hoặc truy cập điện tử, để mọi người có thể nhìn lại một khúc quanh của lịch sử Việt Nam một cách rõ ràng. Sách này gồm hai tập, tập 1 trình bày về cuộc vận động bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật giáo Việt Nam và tập 2 là trình tự thời gian xảy ra cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963 ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ.
Vào thời điểm này, phải chăng thơ đã là món ăn tinh thần lỗi thời, mất hương vị quyến rũ, thua mùi phở hấp dẫn khi đói bụng? Đúng như vậy, có đói mới thèm ăn. Làm sao biết tâm tư của bạn đang đói? Hỏi thử nó có mệt mỏi, có căng thẳng, có phiền muộn chuyện đời, có ghét bỏ người khác? Nếu có, đúng rồi, nó đang đói. Thơ là món ăn tinh thần cổ truyền từ tiền sử. Nếu tiểu thuyết là bữa tiệc, truyện là bữa ăn tối, thì thơ Việt chính là phở. Một món ăn độc đáo cho bất kỳ người Việt nào tại gia hoặc tha hương.
Hiền Như Bụt là tác phẩm biên khảo về Phật Giáo, bút ký pha lẫn văn chương nhưng không phải do một tu sĩ hay một nhà nghiên cứu Phật học sáng tác mà do một trí thức khoa bảng yêu mến và quý trọng Đạo Phật viết ra. Nó là sản phẩm của 20 năm, từ 1992-2012. Hạ Long Bụt Sĩ tên thật là Lưu Văn Vịnh.
Nhân vật trong tiểu thuyết tôi là những khả thể vô thức của chính tôi (Kundera). Bởi cuối cùng là để vượt ra, vượt qua: một cái đường biên mong manh mà mênh mông đó. Ở đó, Bên kia đường biên “bản ngã” của riêng tôi chấm dứt (trang 19). Nghĩa là đạt đến vô ngã / non-self (không phải no-self). Cái đường biên đó do chính tác giả tạo ra cho mình và loay hoay tìm lối thoát, càng tìm lối thoát càng bị quấn chặt. Chỉ vượt ra, vượt qua (Gaté, gaté…paragaté…) đường biên khi có được trí Bát nhã (Prajna) thấy được ngũ uẩn giai Không, mới “độ nhất thiết khổ ách”.
Đây là một tác phẩm lịch sử từng giai đoạn của Quân Lực Việt Nam Công Hòa. Nhà biên soạn sử học Hồ Đắc Huân, đã miệt mài trong bao nhiêu năm, cô đọng, trau chuốt, giao tiếp với nhiều nguồn tin tức khác nhau, cộng với hành trình từ bản thân, là chứng nhân lịch sử; đã cho ra mắt một tác phẩm để đời!
Có Tự ngã không? Đức Phật dạy: Có nghiệp được tạo tác, có quả dị thục được lãnh thọ, nhưng không có người tạo tác, không có người lãnh thọ. Phật giáo không cho có cái gọi là Tự ngã, tiểu ngã, đại ngã, linh hồn, nhưng tin có “Nghiệp mang theo” để “trả quả”. Cái gì mang Nghiệp theo? Thần thức tái sinh, luân hồi?
Cuốn Hồi Ký dày khoảng 500 trang, khổ lớn, với phần biên tập và thiết kế sách của Trịnh Y Thư, phần thiết kế bìa của Nina Hòa Bình Lê, và gồm 7 phần chính, ngoài Lời Ngỏ và Kết Từ. Phần I, tác giả nhớ lại thời còn ở Hà Nội trước năm 1954 với bố mẹ và anh chị; Phần II kể về chuyến di cư đầu đời một thân một mình của cô gái 16 tuổi từ Hà Nội vào Sài Gòn, lập gia đình và những cơ duyên đưa đẩy vào ngành nghệ thuật điện ảnh Miền Nam trước năm 1975; Phần III kể chuyện lưu vong ra hải ngoại trong biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, làm người tị nạn Việt Nam đầu tiên tại Canada, với hai bàn tay trắng làm lại cuộc đời và những phấn đấu gian lao cực khổ để bước vào sân khấu điện ảnh lộng lẫy của Hollywood; Phần IV thuật lại những chuyện vinh quang trong sự nghiệp điện ảnh và những buồn vui của bản thân, gia đình, và những mối giao tình với bạn bè trong cuộc sống tại Hoa Kỳ; Phần V kể chuyện “đứng dậy, đứng thẳng, đi tới” sau những lần vấp ngã để trở thành nhà diễn thuyết khắp thế giới,
“Nước hiện cũng ở quanh tôi, quanh anh chị. Nó ở ngay trang sách này mà ta đang đọc. Ở trong màn hình tôi đang nhìn, trong bàn phím máy computer tôi đang gõ, ở trong cái áo cái quần tôi đang mặc, trong bức tranh trên trên tường…, kể cả trong cái đinh đóng trên đó. Tôi không thấy nó vì tôi ít khi chịu khó nhìn kỹ để thấy nó. Nhưng có điều bây giờ tôi biết rất rõ rằng: không có nước thì cái thằng tôi này cũng không có; không có nước thì cũng không có anh, không có chị ngồi đó mà đọc trang sách này. Cái bàn, cái ghế, cái cây, cái đám mây ngoài kia… cũng không tuốt.” (tr. 158) Không chỉ có vậy đâu mà còn nhiều nữa. Văn Công Tuấn, trong tác phẩm “Chớ Quên Mình Là Nước,” đã dẫn người đọc từ chuyện đất và nước trong đời thường, trong khoa học, trong văn chương tới chuyện đất và nước trong lãnh vực quốc gia dân tộc, từ chuyện đất và nước trong triết học với bản thể và diệu dụng của nước, bước sang chuyện lấy cơ duyên đất và nước để nói đến chuyện thực chứng tâm linh để giác ngộ và giải thoát
Tôi cố ý tìm tòi và trích dẫn nhiều ý kiến của Nguyễn Hiến Lê và cảm nhận về từng tác phẩm Nguyễn Hiến Lê của nhiều tác giả khác. Tôi rất mong được cung cấp càng nhiều thông tin, sự kiện, chi tiết liên quan đến tác phẩm càng tốt, để tiện việc tham khảo và nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.