Hôm nay,  

LM Hồ Ngọc Cẩn: Tuồng Bảy Mối Tội Đầu & Trương Minh Ký: Tuồng Joseph

25/11/202321:05:00(Xem: 9795)

 

LM Hồ Ngọc Cẩn: Tuồng Bảy Mối Tội Đầu

Trương Minh Ký: Tuồng Joseph

 

Phan Tấn Hải

 

 
blankTừ phải: GS Trần Huy Bích, GS Nguyễn Văn Sâm, và nhà văn Trần Ngọc Ánh (phu nhân của GS Sâm).
    

Giáo sư Nguyễn Văn Sâm vừa ấn hành một tác phẩm có nhan đề sách rất dài: “Tuồng Bảy Mối Tội Đầu của LM Hồ Ngọc Cẩn và Tuồng Joseph – 1887 của Trương Minh Ký.” Cuốn sách này là tuyển tập 2 vở tuồng được viết trong tinh thần Công Giáo của vùng đất Nam Bộ của thời kỳ cuối thế ký thứ 19 và đầu thế kỷ 20. Đây là ấn bản 2023 do GS Nguyễn  Văn Sâm giới thiệu và chú giải.

 

Chúng ta nói rằng tuyển tập tác phẩm trên là viết trong tinh thần đạo Công Giáo, thực ra vẫn có dị biệt giữa 2 vở tuồng trên. Mỗi vở tuồng vẫn có một giá trị riêng biệt. Một phần, mục đích của Linh mục Hồ Ngọc Cẩn khi soạn ra vở Tuồng Bảy Mối Tội Đầu là khác với ý định văn học của Trương Minh Ký khi soạn vở Tuồng Joseph. Ngay nơi dòng đầu tiên trong phần Tiểu Dẫn của Tuồng Bảy Mối Tội Đầu, LM Hồ Ngọc Cẩn đã nêu ngay ra thẩm quyền siêu nhiên: “Hẳn như Lời Kinh Thánh dạy, vì ma quỉ ghen ghét, nên sự chết đã vào thế gian: nó đã hỏng mất thiên đàng, nó lại muốn cho loài người đồng sa hỏa ngục.” (trang 51) Do vậy, khi nói là tuồng, nghĩa là một sản phẩm nghệ thuật sân khấu để giải trí, những dòng chữ viết của LM Hồ Ngọc Cẩn có ý tuyên thuyết giáo lý Cơ Đốc hẳn hoi.

 

Phía nhà văn Trương Minh Ký lại khác. Vở Tuồng Joseph của họ Trương chỉ là “lấy sự tích đạo” chứ không phải “tuồng đạo.” Giáo sư Nguyễn Văn Sâm giải thích nơi trang 6 về Trương Minh Ký khi viết Tuồng Joseph: “Lấy tích từ sách truyện nầy kia hay từ đạo Phật, đạo Chúa, đạo Nho là chuyện bình thường. Cũng như ta nói Hàn Mặc Tử là tác giả chịu ảnh hưởng từ đạo Thiên Chúa chứ không nói đó là nhà văn Công Giáo…”

  blank              GS Nguyễn Văn Sâm ký tên lên sách.

Chúng ta có thể thấy văn phong dị biệt giữa Tuồng Bảy Mối Tội Đầu của LM Hồ Ngọc Cẩn và Tuồng Joseph – 1887 của Trương Minh Ký. Khởi đầu Tuồng Joseph của Trương Minh Ký là những lời nói thơ mộng của Joseph, nơi trang 8:

 

Phong điền võ thuận

Quốc thới dân an.

Trong vẻo nước sông vàng,

Lặng trang trời biển đỏ.

Joseph là tên mỗ,

Quê quán ở Chanaan.

Như tôi: Thung dung rèn tới bực tài năng,

Kềm thúc luyện theo đàng nhơn đức,

Thỉ chung một mực

Trung hiếu hai đàng.

Hà! Nghĩ cha già mừng được còn an.

Nhớ mẹ yếu thảm thương sớm mất.

Chừ cũng đà khuya rồi phải vào ma nghỉ…(hết trích)

 

Đọc những dòng thơ tự sự đầu vở tuồng, chúng ta không thấy chất đạo Công Giáo, trong khi nếu nói về hình ảnh thì duy có chữ “Chanaan” là một vùng đất Trung Đông, có tên trong Kinh Thánh. Nhưng nghĩ kỹ, chỉ qua những lời nói mở đầu này, có thể suy đoán là tác giả viết trong bầu không khí Nho giáo, khi nghĩ tới nhờ ơn đức của vua nên mới có “phong điền võ thuận, quốc thới dân an.”

 blank                        Bìa sách.

Trong khi đó, ngay trang đầu của Tuổng Bảy Mối Tội Đầu, linh mục Hồ Ngọc Cẩn đưa ngay văn phong nhà thờ Ky tô vào từ dòng đầu, với nhân vật nói mở đầu cho tuồng là Thiên Thần:

 

Bạch: Trung thần hưởng phước tại thiên đình

Ngụy quỉ lưu giam chốn địa hình

Lương thiện hà giao nhơn bất nghĩa,

Thanh liêm khỉ mộ chúng khuy tình.

Nói: Hỉ hoan nơi cõi thọ

Nhàn lạc chống quang vinh.

Hằng chầu chực Chúa chí linh.

Cùng giữ gìn người dương thế

Tính linh thiêng phụng quyền Thượng đế…(hết trích)

 

Nghĩa là, ngay dòng đầu, LM Hồ Ngọc Cẩn nói tới thiên đình (cõi trời), nói tới địa ngục (có quỉ, có lưu giam chốn địa hình), lại nói rằng “chầu chực Chúa chí linh” và rồi “phụng quyền Thượng đế.” Đó là những khái niệm của thiện thắng ác, của những người Ky tô hữu phụng quyền Thượng đế. Như thế, hoàn toàn mất hẳn tính nhà Nho trong những lời nói đầu vào tuồng, mà chỉ là văn phong Kinh Thánh Cơ Đốc.

 

Tuyển tập được Giáo sư Nguyễn Văn Sâm phát hành từ tuần qua trong vòng các thân hữu, và trong giới học giả thân quen. Trong đó, Giáo sư Trần Huy Bích đã theo sát để hỗ trợ, vì GS Nguyễn Văn Sâm vừa rời bệnh viện sau một kỳ nằm bệnh viện nhiều tuần lễ.

 

Hai vở tuồng trong tuyển tập có nhiều giá trị về văn học sử đối với những người nghiên cứu về thời kỳ đầu của văn học Công Giáo Nam Bộ, và đồng thời cũng có giá trị đặc biệt với những người nghiên cứu về tiến trình sơ kỳ của công cuộc hình thành chữ quốc ngữ tại Việt Nam.

 

Các độc giả quan tâm, có thể liên lạc với tác giả qua:

GS Nguyễn Văn Sâm – Email: [email protected]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đây là cuốn sách viết bằng song ngữ Anh-Việt của cư sĩ Nguyên Giác. Sách dày 319 trang vừa được Ananda Viet Foundation (Nam California) xuất bản. Cư sĩ Nguyên Giác tu học với một số thiền sư tiền bối nổi tiếng trước 1975 như Thích Tịch Chiếu, Thích Thường Chiếu, Thích Thiền Tâm và Thích Tài Quang. Cư sĩ Nguyên Giác say mê Thiền, nghiên cứu về Thiền, viết về Thiền và sống chết với Thiền. Ông đã xuất bản tám cuốn sách về Thiền. Nay ở tuổi 68, ông viết cuốn này vì sợ rồi đây sức khỏe suy yếu, không còn khả năng viết nữa. Tuy nhiên ước mơ lớn vẫn là để cho các nhà nghiên cứu ngoại quốc muốn tìm hiểu về Phật Giáo Việt Nam, nhất là Thiền, có tài liệu tham khảo vì hiện nay Anh Ngữ là ngôn ngữ phổ biến khắp thế giới.
Từ lúc nhận sách đem về nhà, trong đầu tôi dường như có cái gì đó còn vướng vướng. Cầm cuốn sách, lật qua lật lại, lật tới lật lui. Vẫn chưa mở sách ra để đọc. Bổng nhiên mắt tôi dừng lại ở cái tựa đề sách “Gặp Gỡ Với Định Mệnh.” À, thì ra chính cái tựa đề này làm cho mình bị khựng lại. Rồi tôi thắc mắc về tựa đề cuốn sách “Gặp Gỡ Với Định Mệnh.” Định mệnh là định mệnh gì? Định mệnh của ai, của dịch giả họ Trịnh hay của tác giả bài văn tuyển dịch, hay của tất cả mọi người? Tôi có nằm trong cái định mệnh đó? Có cái gì đó tương quan tương duyên giữa “định mệnh” trong cuốn sách ngày xưa với “định mệnh” bất ổn của xã hội ngày nay? Chính những thắc mắc đó đã xô đẩy tôi bước vào cuốn sách và đi tìm câu trả lời. Tìm trong mục lục, tôi thấy có bài “Gặp Gỡ Với Định Mệnh” của nhà văn người Mỹ Philip Roth. Tôi vội vàng lật qua trang 47. Và tôi bắt đầu đọc một mạch không ngừng cho đến hết. Dịch giả Trịnh Y Thư rất tử tế, anh đã giới thiệu một cách trang trọng tác giả
“Chúng ta đến xứ sở này xa lạ / ra đi chưa hết lạ / nhưng không bao giờ thôi yêu mến / mặt hồ đại dương / căn nhà chở che hạnh phúc / lối mòn nhỏ ven rừng con ta bước tiên khởi tự do. / Đây là nơi chúng ta hàn gắn mình / Như thợ giày khâu vết thương há miệng / Sau đường dài ngập máu / sau đường dài ngập phân / sau chợ chiều cân xác chết chiến tranh / một triệu tiếng chuông không mua hết oan hồn. / Đây là nơi chúng ta sống đàng hoàng / và chết vào buổi chiều có cánh / bay về một xứ sở đã xa.
Qua cuốn sách này, Kissinger tổng kết những trải nghiệm phong phú qua hơn sáu thập kỷ trong chính trường thế giới. Là một người theo trường phái Hiện thực cực đoan (Hard-core Realist) trong lý thuyết Bang giao Quốc tế, ông đã phân tích theo khảo hướng lịch sử một cách xuất sắc về hệ thống chính trị châu Âu, các nước theo Hồi giáo, Trung Quốc và Mỹ, nhưng không đề cập đến sự phát triển tại châu Mỹ La tinh. Ông kết luận rằng có một hình thái mới trong quan hệ các siêu cường, nó dựa trên hệ thống theo Hoà ước Westphalen, sự cân bằng quyền lực trên toàn cầu và các nguyên tắc không can thiệp, tất cả sẽ là một mệnh lệnh chung cho việc xây dựng trật tự thế giới ngày nay. Tuy nhiên, nhìn chung, Kissinger không thể cung cấp các giải pháp khả thi hay bước đầu hữu ích. Có nhiều lý do để phản luận Kissinger mà bài điểm sách sau đây sẽ đề cập.
Ba mươi tháng Tư năm 1975 là dấu thời gian của những đổi đời, của vinh quang cùng đau khổ. Nhiều câu chuyện đã được kể lại, nhiều hồi ức đã viết về đất nước với chiến tranh quốc cộng và hệ lụy kéo dài. “Cha Vô Danh” [Nxb. L’Harmattan, France 2019, 532 trang] của Phạm Ngọc Lân ghi lại biết bao đổi thay, thăng trầm của đất nước, nhưng có những nét riêng vì trải dài gần ba phần tư thế kỷ từ đầu thập niên 1940 cho đến năm 2015 và qua những nơi ít được nhắc đến như Ba Bình, Lạng Sơn, Bảo Lộc, Vincennes, Toulon, Fréjus, Nouméa.
Chogyam Trungpa Rinpoche (1939-1987) là một trong những đạo sư Tây Tạng đầu tiên mang Phật Pháp đến phương Tây. Năm 1963 được học bổng để du học tại Đại Học Oxford. Năm 1967 sau khi tốt nghiệp Ngài thành lập Trung Tâm Thiền Samaye-Ling tại Scotland với phương pháp thiền áp dụng vào đời sống hàng ngày.
Cuộc đời của Nữ Thiền sư Dipa Ma đã được tác giả Amy Schmidt đem vào tác phẩm “Knee Deep in Grace, The extraordinary Life and Teaching of Dipa Ma”. Sau đó, Tác phẩm nầy được bổ túc thêm để trở thành tác phẩm mang tên “Dipa Ma, The Life and Legacy of a Buddhist Master”. Dipa Ma (1911- 1989) ra đời tại Chittagong, một làng nhỏ nằm về phía Đông xứ Bengal (ngày nay là Bengladesh). Lúc dó Bà mang tên là Nani Bala Barua chớ chưa phải là Dipa Ma.
Bên cạnh mười bài giảng của Thầy Phước Tịnh là mười bài Thiền Ca Chăn Trâu được kẻ nhạc do nhạc sĩ Tâm Nhuận Phúc sáng tác, dựa theo thơ Thầy Tuệ Sỹ. Sách in trên giấy đẹp, khổ vuông 8.5X8.5 inches, dày 90 trang. Sách “Mõ Trâu” do Tâm Nguyên Nhẫn thực hiện chỉ 30 ấn bản để tặng, theo các pháp thoại do Doãn Hương sưu tập lời giảng của Thầy Phước Tịnh về Thập Mục Ngưu Đồ. Doãn Vinh vẽ bìa và phụ bản. Nguyễn Đình Hiếu trình bày. Tâm Tường Chơn biên soạn. Bài này sẽ nhìn Thập Mưu Ngục Đồ qua bản đồ học Phật của Đấng Thế Tôn. Trong hai tạng Kinh A Hàm và Nikaya, Đức Phật đã từng so sánh tiến trình tu tâm như việc chăn bò. Trong Phật Giáo Tây Tạng, cũng có một hướng dẫn tương tự như tranh chăn trâu, nhưng là lộ trình chín giai đoạn chăn voi. / A HÀM, NIKAYA: CHĂN BÒ, THIỀN TÔNG VÀ HẠNH BỒ TÁT/ Trong Kinh Tạp A Hàm SA 1249, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Đức Thắng, Đức Phật dạy về kỹ năng tu tâm tương tự như kỹ năng chăn bò, với 11 pháp người chăn bò cần khéo biết.
Trong những ngày nhàn rỗi cuả tháng 4, vô tình được đọc tác phẩm The Sympathizer (Grove Press New York, 2015) của Viet Thanh Nguyen (sinh năm 1971 tại Ban Mê Thuột), với bản dịch Việt Ngữ của Lê Tùng Châu (23 chương 434 trang), tôi hoàn toàn bị cuốn hút và ngỡ ngàng trước một tiểu thuyết lấy bối cảnh về chiến tranh Viet Nam, nhưng toàn truyện như một bản hòa tấu đủ cung bậc thăng trầm, với nhiều đoạn trường canh vừa có triết tính và thơ mộng, vừa có ý nghĩa sâu sắc và mang tính gợi hướng của thời đại. Chính Viet Thanh Nguyen, một nhà văn người Mỹ gốc Việt đã đánh bại bao nhiêu tác phẩm khác trên đấu trường văn chương và được hội đồng chấm giải Pulitzer vinh danh, trao giải năm 2016...
Đầu thập niên 60, thầy Nguyễn Phú Long, hiệu trưởng trường trung học Nguyễn Duy Hiệu ở Vĩnh Điện, Quảng Nam - dịch giả Nguyễn Kim Phượng – làm thơ với bút hiệu Hoàng Thị Bích Ni. Nhà thơ Luân Hoán, nòi tình với thi ca từ thuở học trò cho đến nay xấp xỉ tám mươi, với bút hiệu nàng thơ Châu Thị Ngọc Lệ xuất hiện trên tờ Ngàn Khơi, Thời Nay… mượn địa chỉ của một người đẹp có thật tên Đoàn Thị Bích Hà, ở Đà Nẵng. Có người từ Sài Gòn ra tìm… sợ bể mánh nên lấy bút hiệu khác là Lê Quyên Châu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.