Hôm nay,  

GS Nguyễn Văn Sâm ấn hành: Tuổng Kim Long Xích Phượng

23/11/202416:18:00(Xem: 13626)

GS Nguyễn Văn Sâm ấn hành:
Tuổng Kim Long Xích Phượng
 

Phan Tấn Hải
 

Bạn đang cư trú ở một nơi rất xa quê nhà. Thế rồi, một hôm, bạn mở TV xem và bất chợt nhìn thấy một vở kịch Nhật Bản thể loại Noh, và bạn bùi ngùi nhớ về quê nhà, nơi thời thơ ấu bạn đã từng xem một tuồng hát bội, một thể loại kịch cổ điển thường hát ở các ngôi đình Miền Nam Việt Nam. Khi vở Kịch Noh vừa chấm dứt, cho dù bạn chưa hiểu tận tường tuồng Nhật Bản nói gì, nước mắt đã đầm đìa trên mắt của bạn, đó là nước mắt khi nhớ về thời tuổi nhỏ chạy chơi trong sân đình, nơi các nghệ sĩ tuồng ngồi vẽ mặt của những buổi chiều trước giờ kéo màn.
 

Tuồng hát bội, một thể loại nghệ thuật chỉ còn trong trí nhớ của những người từ tuổi trung niên trở lên, những người còn nhớ âm vang và hình ảnh khi người nghệ sĩ tuồng dậm chân và đưa tay lên hát, trong khi tiếng trống gõ để đệm theo.
 

Chúng ta không hiểu chính xác, vì ký ức là của một thời tuổi nhỏ, nhưng chúng ta vẫn nhớ, hệt như chàng trai nhớ tới một sợi tóc mềm mại của một cô bạn thời đi học. Tuồng hát bội, nghe rất âm vang xưa cổ. Nhưng thực sự không quá xưa cổ. Tự điển Bách Khoa mở ghi rằng, theo nhiều học giả, tuồng xuất phát từ ca vũ dân tộc Việt Nam, song trong quá trình phát triển, tuồng đã tiếp nhận nhiều trình thức biểu diễn và hóa trang của Hí Kịch. Lối hát tuồng du nhập vào Việt Nam vào thời điểm nào thì chưa được xác minh.
 

Lịch sử ghi rằng người đầu tiên đặt nền móng cho nghệ thuật tuồng Việt Nam là Đào Duy Từ (1572-1634). Năm 1627, Đào Duy Từ là người đầu tiên đã mang về cho chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nghệ thuật tuồng.
 blankGS Nguyễn Văn Sâm và phu nhận, nhà văn Trần Ngọc Ánh, nơi đậu xe của Viện Việt Học hôm Thứ Bảy 23/11/2024.

Hôm Thứ Bảy 23/11/2024, Giáo sư Nguyễn Văn Sâm và phu nhân là nhà văn Trần Ngọc Ánh đã lái xe từ Victorville tới Viện Việt Học, Westminster, để cho thấy một niềm vui của nhà nghiên cứu Hán Nôm này: lô sách ấn hành đầu tiên với nhan đề sách là "Gia tài văn hóa Việt Nam: Tuồng hát bội Kim Long Xích Phượng Toàn Tập" vừa rời nhà in.
 

Sách cũng ghi rõ:
. Nguyễn Văn Sâm phiên âm và sơ chú
. Nguyễn Hiền Tâm hiệu đính
. Nguyễn Anh Tú biên tập.
. NBX Viện Việt Học 2025.

Các chi tiết này cho thấy sự làm việc cần trọng: sách dày 200 trang, cộng thêm bìa có thể gọi là 204 trang. Nhưng đây là một tâm huyết, cẩn trọng, dò và đối chiếu từng chữ, từng nghĩa.
 

Nơi trang 3 và 4 của tác phẩm, GS Nguyễn Văn Sâm giải thích, trích:
 

"Thế kỷ 19 có một sự cộng tác đặc biệt của một số người Minh Hương ở Chợ Lớn và các nhà khắc ván ở vùng Phật Trấn (Quảng Đông, Trung Quốc) để thực hiện khắc ván, in và phát hành sâu rộng những tác phẩm Việt Nam viết bằng chữ Nôm. Số tác phẩm này nhiều và quan trọng vì thời gian hoạt động của nhà khắc ván, nhà phát hành nói trên gần như kéo dài cả trăm năm. Nếu làm một việc kiểm kê những tác phẩm ở trong trường hợp nầy còn sót lại cho đến ngày nay ta thật ngạc nhiên mà thấy rằng đó là một gia tài văn hóa quý báu của người Việt. Quý giá nhưng từ lâu chìm trong lãng quên vì ta không biết hay chưa biết hết.

Lý do cũng dễ hiểu thôi, vì thời gian binh lửa kéo dài, vì người cựu học trong Nam không nhiều, vì các tờ báo Nam Phong, Đông Dương, Tri Tân được thiết lập ở Bắc, vì các hội Trí Tri, Nghiên Cứu Đông Dương, Đô Thành Hiếu Cổ đều có trụ sở ở miền ngoài nên các cơ quan nầy không có phương tiện để thấy để biết mà giới thiệu những tác phẩm quý giá đó.



Lý do gì đi nữa thì các tác phẩm đó gần như mai một và chúng ta biết thật ít về chúng. Nhiều trường hợp nghe tên tác phẩm mà rất ít trường hợp thấy chính tác phẩm. Tôi gần đây có cơ may thấy được một vài quyển do nguồn tài liệu ở Pháp và được Giáo Sư Nguyễn Khắc Kham khi còn mạnh khỏe cho sao lại nhiều quyển trong tủ sách riêng của Thầy nên thấy mình có bổn phận giới thiệu với học giới những gì tôi có thể làm được.

Thường thì tác phẩm cần được phiên âm cẩn thận trước khi suy nghĩ về những vấn đề đặt ra trong đó. Sự phiên âm rất cần thiết vì sẽ có dịp đem tác phẩm tới mắt đa số quần chúng Việt Nam hay học giới nghiên cứu Việt Nam mà có thể đọc được quốc ngữ. Trong khi phiên âm, phiên giả học được nhiều điều bổ ích liên quan đến chữ nôm và tiếng Việt. Phiên âm cũng là cách đọc thật kỹ tác phẩm, cân nhắc từng chữ dùng của người xưa, gặp chữ lạ lại tự hỏi đọc thế nào cho hợp lý, để tìm tòi về nghĩa. Do đó sự phiên âm của chúng tôi cũng là sự học hỏi cần thiết về những vấn đề liên quan đến chữ Nôm, đến quốc văn. Sự đọc sai, có thể có, tuy rằng chúng tôi đã cố gắng đến tối đa. Sai vì sức học chưa tới, nghiên cứu chưa đủ, nhưng nghĩ rằng ai cũng có thể sai, tôi mạnh dạn tiến vào công cuộc nhàm chán này. Sự đọc tạo nên tranh biện với những nhà Nôm học hay ngữ học càng có nhiều khả năng hơn. Chuyện đó phải xảy ra thôi, nhưng tôi đã cân nhắc thật kỹ mỗi khi đưa ra chữ mình phiên âm, không bao giờ để sự cẩu thả, qua mắt người hay sự cầu kỳ thúc đẩy. Mong phần lớn chữ mình phiên âm được công nhận và những tranh biện chỉ thực sự xảy ra vì chân lý cần được làm sáng tỏ đối với những chữ quá mắc mà thôi.

Tuồng Kim Long Xích Phượng được đọc trong tinh thần đó.

Đây là một tuồng như kiểu Tuồng San Hậu, nghĩa là không dựa trên truyện Tàu mà do người đặt mô phỏng chỗ nầy một chút, chỗ kia một chút để viết nên. Tuồng gồm ba hồi, trong mỗi hồi có nhiều lớp, không nhứt thiết phải là một cảnh. Bản Nôm không chia hồi cảnh, tôi tạm chia để người đọc dễ dàng theo dõi câu chuyện."
  blank

 
Sách này cũng cho bạn nhớ lại một thể văn rất cổ, rất là tuồng Tàu và nơi đây là rất mực văn chương Nam Bộ, trích dụ, trích vài dòng nơi Mục lục các chương:
 

"Lớp 4: Nhận búa thần, Châu Võ Sĩ chờ thời giúp nước.
Lớp 5: Thứ Hậu mộng thấy hoài thai Kim Long, Xích Phượng.
Lớp 6: Ôm đố kỵ, Chánh Cung bày mưu độc.
Lớp 7: Chốn Bàn Khê, Bửu Lâm Sanh cùng Thị Lang kết bạn."
 

Bạn sẽ nhớ rằng, cứ mỗi lớp là màn từ mái đình buông xuống để các nghệ sĩ tuồng chuẩn bị cho lớp kế tiếp.
 

Đây là một cuốn sách đang gìn vàng giữ ngọc cho một nếp văn học Nam Bộ xưa cổ, những hình ảnh đang lùi dần trong ký ức của thời kỳ đương đại tưng bừng nhạc Rap, nhạc Jazz... Chắc chắn rằng, khi bạn khép trang sách lại, những hình ảnh của những ngôi đình xưa cổ đã từng xúng xính những xiêm áo nghệ sĩ tuồng sẽ hiện ra trước mắt bạn, nơi đó từng âm thanh vang lên, từng chữ chép xuống đều là các giá trị của những tấm gương nhân vật tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa.
 

Cần liên lạc với tác giả, có thể liên lạc GS Nguyễn Văn Sâm: [email protected]




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Con người trong thiên truyện này của nhà văn Nguyễn Viện không được quyền ngủ, hắn phải tỉnh thức, tỉnh thức để nhận lãnh tất cả mọi khổ đau, bầm dập của cái-gọi-là đời sống, và tỉnh thức để biết đường trốn chạy ra khỏi cái mê cung kinh hoàng của chiến tranh, của những thế lực phi nhân tính, phi đạo đức luôn sẵn sàng đè bẹp những tâm hồn yếu đuối chỉ có một mong ước duy nhất là được sống, được sống như con người...
Tiểu thuyết CÓ NHỮNG KẺ ĐI MÃI KHÔNG VỀ là bi kịch của một nạn nhân không chỉ như tôi. Nó là bi kịch của một làng quê của một đất nước mà tôi là một giọt máu. Rume đã tồn tại như huyền thoại và mất đi như cụm khói của bom đạn. Có thể cái làng quê được gọi là Rume ấy không có thật, nhưng ký ức về nó giống như ký ức của tất cả những ai đã từng có một quê hương.
Lan man đôi chút về “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” Nguyên Giác – Phan Tấn Hải và mùi hương thoảng qua của chữ Có những người đi qua đời, để lại tiếng cười rổn rảng. Có người để lại chồng sách dày cộp. Còn Nguyên Giác - Phan Tấn Hải để lại một thứ mong manh hơn nhiều: Một mùi hương!
“Tiểu Trấn Magnolia” là tên một thị trấn nhỏ ở tiểu bang Georgia của nước Mỹ, mà trong đó chàng thanh niên Rocky rất yêu thích sống ở đó. Cái tên “tiểu trấn Magnolia” nghe có vẻ vừa xưa vừa nay, vừa cổ kính vừa tân thời. Nó như cái tên địa danh nào đó trong một câu chuyện cổ tích Đông phương đầy thơ mộng, nhưng nó cũng làm cho người đọc liên tưởng tới một địa danh thuộc thế giới Tây phương hiện đại.
Mở đầu tuyển tập Đuổi Bắt Một Mùi Hương*, là bốn câu thơ: Bên trời ngồi viết, tóc rối như mây, quê nhà mờ mịt, chữ lạnh đôi tay. Tôi rất thích hình ảnh, bên trời ngồi viết, có lẽ bởi cái vô định của không gian, và vô cùng điểm xô đẩy nhau trên dòng thời gian, cái ẩn chủ thể của viết, của tóc rối, của lạnh đôi tay trong không khí bài thơ này...
Ở tuổi mười bảy, trong sân chùa Xá Lợi một buổi chiều Sài Gòn, nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Đuổi Bắt Một Mùi Hương bất chợt nắm tay một cô bé áo trắng. Đúng khoảnh khắc ấy, một mùi hương lạ thoảng qua trong gió. Cái nắm tay run rẩy và mùi hương mong manh đó đã bám theo nhân vật chính suốt nhiều thập niên
Tuyển Tập PHAN TẤN HẢI VĂN HỌC PRESS & VIỆT BÁO FOUNDATION đồng xuất bản, 2026 .... o .... Đuổi bắt một mùi hương? Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây và bây giờ, một thứ “vô tận hương” bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…? – BS Đỗ Hồng Ngọc
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.