Hôm nay,  

Giới Thiệu Tập Thơ "Một Đóa Trà My" của Thầy Thích Thiện Trí

24/10/202513:28:00(Xem: 4717)
blank

Giới Thiệu Tập Thơ "Một Đóa Trà My" của Thầy Thích Thiện Trí
 

Nguyên Giác / Thượng Tọa Thích Thiện Trí


VỀ THÔI

Về thôi, về mặc Cà Sa
Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương
Về thăm lại tiếng chơn thường
Thăm vườn lam nhả khói thiêng Cõi Thiền

Ô hay, một góc trời yên
Một vườn hoa toả hương miền ngàn bay
Thoảng trong gió, thoảng chân đài…
Gót sen thoát những cơn say bụi trần

Để hồn được phút lâng lâng
Trầm hương cửa Phật thoảng dần, thoảng xa
Về thôi về lại chung nhà
Nhà Như Lai đón người xa quay về!

--- Thiện Trí, 2025.
 

Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi.
Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương...
 
Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã. Tức là hội nhập vào tâm của các bậc Thánh Tăng như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên. Trong Thiền Tông, “mặc áo” là biểu tượng cho sự thọ nhận pháp, còn “cởi áo” là buông bỏ vọng tưởng.
 
Không phải hình thức, mà là sự tỉnh thức. Chúng ta có thể nhớ tới ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ của thời nhà Trần: vượt qua dòng sông sinh tử phải có tâm như con trâu đất, bước xuống nước tới đâu là tan rã tới đó, Như thế mới thực sự là mặc áo giải thoát.
 
Về thăm lại tiếng chơn thường / Thăm vườn lam nhả khói thiêng Cõi Thiền...
 
Vâng, tiếng chơn thường là tiếng của bản thể bất sinh bất diệt, là tiếng của tâm không động, không vọng. Vườn lam là biểu tượng cho nơi thanh tịnh, nơi pháp giới giải thoát hiện tiền. Khói thiêng không phải là khói vật lý, mà là hương của giới-định-huệ lan tỏa trong không gian tâm linh. Thiền Tông không tìm về quá khứ hay tương lai, mà là trở về với chơn thường ngay trong phút giây hiện tại.
 
Ô hay, một góc trời yên / Một vườn hoa toả hương miền ngàn bay...
 
Đây là cảnh giới của tâm an trú. Góc trời yên là nơi không còn phân biệt, không còn vọng động. Yên là an. Và chữ an còn có nghĩa là giải thoát, là Niết bàn, là xa lìa phiền não. Vườn hoa tỏa hương là biểu tượng cho tâm khai mở, nơi mà mỗi niệm đều là một đóa hoa giác ngộ. Và ngay khi tâm không còn bị che phủ bởi vô minh, thì cảnh giới hiện tiền chính là Tịnh độ.
 
Thoảng trong gió, thoảng chân đài… / Gót sen thoát những cơn say bụi trần...
 
Thoảng chân đài không nên hiểu là đài sen phương Tây hay phương Đông, mà chính là nơi tâm như gương sáng, không vướng bụi. Gót sen là bước chân của người tỉnh thức, người đã thoát khỏi cơn say của ngũ dục, lục trần. Đài sen là biểu tượng của tâm thanh tịnh. Khi tâm như gương sáng, thì nơi nào cũng là đài sen.


 
Để hồn được phút lâng lâng / Trầm hương cửa Phật thoảng dần, thoảng xa...
 
Phút lâng lâng là tâm nhẹ nhàng, không còn bị trói buộc bởi danh lợi. Phải chăng đây là sơ thiền, nhị thiền... hay là khi định và huệ đều đẳng dụng? Trầm hương cửa Phật là hương của sự tỉnh thức, của giới hạnh, của từ bi. “Thoảng dần, thoảng xa” là sự lan tỏa của pháp vị, nơi không ngôn ngữ nào định vị được là gần hay xa, vì khi nhận ra ngũ uẩn là Không thì không còn cái gì để nói là đây, kia, đó, quá, hiện, vị lai...Đó mới là trầm hương cửa Phật.
Về thôi về lại chung nhà / Nhà Như Lai đón người xa quay về!
 
Nhà Như Lai không phải là một ngôi chùa vật lý, mà là pháp thân thanh tịnh, là nơi không sinh không diệt. Người xa quay về là người đã đi qua bao nhiêu vòng luân hồi, bao nhiêu mê lầm, nay trở về với chính mình. Trong Thiền Tông, hình ảnh “về nhà” là trở về với bản lai diện mục—khuôn mặt thật của mình, khi thấy không có cái gì là tôi hay của tôi, và thấy không có cái gì là người hay của người. Tất cả chỉ như bọt sóng trên sông, như quáng nắng chiều rơi.
 
Bài thơ “Về Thôi” là một lời mời gọi không phải để đổi áo, mà là mời gọi trở về với tâm tỉnh thức trong từng sát-na. Cởi áo Ta Bà là buông vọng tưởng. Mặc áo Cà Sa là khoác lên tâm từ bi và trí tuệ. Đài sen không ở phương Tây hay phương Đông, mà ở nơi tâm không còn bụi trần. Đó là khi đã nhận ra Phật tánh nơi chính mình.
 
Hy hữu nơi cõi này mới có một nhà thơ thiền sư như Thầy Thiện Trí. Xin mời gọi độc giả mở ra đọc chậm rãi, từng trang, từng dòng tập thơ Một Đóa Trà My. Xin mời nhìn vào từng dòng, từng chữ như đang nhìn theo ngón tay chỉ trăng. Xin lật từng trang và đọc cẩn trọng, kẻo làm vỡ hồn trăng.

California, tháng 9/2025.
.

MỘT ĐOÁ TRÀ MY
Kính mời quý đọc giả cùng “chúc mừng” tập thơ Một Đoá Trà My “nở ra” sau tập thơ “VẠT NẮNG PHÙ HƯ” của tác giả Thiện Trí. Tập thơ này hứa hẹn cùng quý độc giả những bài thơ bay nhẹ như tiết trời Thu. Nhẹ như một chiếc lá từ cành cao thả mình rơi vào dòng sông xanh biếc…Và hương thơm của Đoá Trà My thoảng gió hương miền gọi Mùa Xuân chợt giấc..!
 

Tặng nhau một Đoá Trà My
Cho hương thơm toả,
Cho “thi” thêm vầng

Cho đời đẹp tợ trăng rằm
Cho Từ Bi thắm cõi tâm sắc màu
Đoá Trà My
Xin tặng nhau
Mong người “TRI KỶ” bước vào hồn thơ
__________________
Liên lạc nhận tập thơ
Tel: 626-866-1653
Email: [email protected] 

Địa chỉ liên lạc
Tu Viện Phổ Quang
824 Sandy Lane
Fort Worth_Texas 76120

blank

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tóm lại, A History of the Vietnamese là một cuốn sách rất công phu, chi tiết về lịch sử Việt Nam, chú trọng về văn hóa và xã hội, do một Giáo sư Sử học và Việt học người Mỹ từng huấn luyện nhiều sử gia Mỹ về chuyên ngành Việt Nam. Người quen đọc (hay học) sử tiếng Việt theo truyền thống chủ nghĩa dân tộc, hay người từng dùng chủ nghĩa dân tộc như một khí cụ chính trị có thể không đồng ý về một số kết luận, ví dụ về nguồn gốc tiếng Việt hiện đại hay về sự hiện hữu hay không của một "quốc hồn, quốc tính" Việt Nam. Tuy nhiên, đọc một cuốn sử dùng các sử liệu mới nhất và phân tích theo chiều hướng khoa học sử và chính trị hiện đại, người viết bài này cảm thấy biết ơn một nhà học giả ngoại quốc đã đem bao nhiêu thời giờ và tâm huyết để tạo nên một công trình đồ sộ như vậy, chưa từng có trong Anh văn. Ước mong một bản dịch tiếng Việt với đối chiếu các danh từ Anh-Việt và Hán sẽ xuất hiện một ngày nào đó không xa.
Trong những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975, các máy bay trực thăng Mỹ đã bay lên bầu trời Sai Gòn và tìm các đường đến các tàu ở Biển Đông (được những người bên ngoài Việt Nam gọi là Biển Hoa Nam). Chiếc máy bay mà người Việt gọi là "con chuồn chuồn", đã xé nát các gia đình nhưng cũng ràng buộc Mỹ và Việt Nam với nhau.
Chiến tranh ở bất cứ nơi nào trên thế giới đều giống nhau, nó như những hạt giống gieo trên mặt đất, nhưng điều khác biệt là hạt giống nẩy mầm và nuôi sống loài người, còn bom đạn gieo xuống tàn phá và giết chết loài người, hay để lại những hố sâu trên mặt đất và những vết thương không bao giờ lành trong tâm hồn mỗi con người. Nhưng vết thương không lành là những vết thương đau nhất và cũng "đẹp nhất." -- Trần Mộng Tú.
Tác phẩm Thế Sự Thăng Trầm của Trần Bảo Anh, dày 280 trang, gồm các bài viết: Đẹp & Xấu, Thời Gian Hiện Tượng & Sự Tái Diễn, Từ Chối, Ngô Văn Định Lữ Đoàn Trưởng LĐ 258 TQLC, Chiến Thắng Phượng Hoàng, Ảnh Hưởng Của Lời Nói, Nói Chuyện Anh Hùng, Tôi & Ý Trời, Những Chuyện Can Đảm Cổ Kim, Cách Suy Nghĩ Của Một Người Công Chức, Lương Tâm & Lòng Tận Tụy, Bằng Trời Bằng Bể, Yêu & Rất Yêu, Đang Ở Nơi Khác, Đắc Thế Thất Thế & Tư Cách…
Vì là lớn tuổi mà phải lu bu với nhiều công việc không tên hàng ngày cho nên tôi ít có thì giờ đọc sách. Vậy mà tôi đã dành ra nhiều ngày liên tục để say sưa đọc từ đầu chí cuối tập truyện Trọn Đời Yêu Thương của anh Duy Nhân tặng cho tôi hồi đầu Xuân Quý Mão...
Tôi rất phục những người viết sách, in sách, nhất là những nhà văn định cư ở Hoa Kỳ. Mỗi lần cầm quyển sách trên tay, tôi rất cảm phục tác giả đã chịu khó viết văn. Khi tôi cầm quyển sách "Thiền Tập Với Pháp Ấn" của Cư sĩ, nhà văn Nguyên Giác, nhà xuất bản Ananda Viet Foundation, Tâm Diệu, một Phật tử đã học ở Cal State Fullerton, trình bày, điều đầu tiên tôi tự nhủ: hình bìa đẹp quá, màu sắc nổi bật, Phật đang ngồi thiền trên tòa sen...
“… Đêm qua trăng mọc trên đồi / thấy tâm tịch lặng không người, không ta / ai hỏi thì nhấc cành hoa / thấy gì, được thấy, đều xa muôn trùng …” (bài thơ “Như nắng tà huy” của Cư sĩ Nguyên Giác viết tặng “quý tôn túc Đỗ Hồng Ngọc, Trần Tuấn Mẫn, Nguyên Cẩn, và pháp huynh HT Minh Diệu Nguyễn Thế Đăng,”)
"Các bài viết nơi đây hầu hết là trích từ Kinh Phật, ghi lại trong nỗ lực hoằng pháp để rủ nhau tu học. Người viết không bao giờ tự nhận là giáo sư, giảng sư, thầy dạy hay bậc đàn anh trong đạo.Trong khi những chữ này được gõ lên nơi đây, chỉ là do duyên mà hiện lên. Người viết luôn nhớ lời Đức Phật dạy rằng không hề có ai đang gõ, cũng như chỉ có những dòng chữ đang được đọc, và không hề có ai đang đọc. Người viết luôn luôn viết trong trong tinh thần như thế, trong khi trích lời Phật và ý Tổ để chia sẻ, và để mời gọi nhau cùng bước sang bờ bên kia." Đó là Lời Thưa của tác giả Nguyên Giác về cuốn Thiền Tập Với Pháp Ấn.
Sách Thiền Tập với Pháp Ấn dày 460 trang gồm 27 chương do Ananda Viet Foundation ở California vừa xuất bản mà tác giả gửi biếu tôi bản đầu tiên. Đây là cuốn sách thứ bảy biên khảo về Thiền của cư sĩ Nguyên Giác...
Khi nhận được sách của tác giả Cù Mai Công gửi tặng, nhìn mấy hình trên bìa là một trời ký ức lại ùa về vì tôi đã được sinh ra và đã lớn lên ở vùng đất có tên Ngã ba Ông Tạ...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.