Hôm nay,  

Giới Thiệu Tập Thơ "Một Đóa Trà My" của Thầy Thích Thiện Trí

24/10/202513:28:00(Xem: 2104)
blank

Giới Thiệu Tập Thơ "Một Đóa Trà My" của Thầy Thích Thiện Trí
 

Nguyên Giác / Thượng Tọa Thích Thiện Trí


VỀ THÔI

Về thôi, về mặc Cà Sa
Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương
Về thăm lại tiếng chơn thường
Thăm vườn lam nhả khói thiêng Cõi Thiền

Ô hay, một góc trời yên
Một vườn hoa toả hương miền ngàn bay
Thoảng trong gió, thoảng chân đài…
Gót sen thoát những cơn say bụi trần

Để hồn được phút lâng lâng
Trầm hương cửa Phật thoảng dần, thoảng xa
Về thôi về lại chung nhà
Nhà Như Lai đón người xa quay về!

--- Thiện Trí, 2025.
 

Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi.
Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương...
 
Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã. Tức là hội nhập vào tâm của các bậc Thánh Tăng như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên. Trong Thiền Tông, “mặc áo” là biểu tượng cho sự thọ nhận pháp, còn “cởi áo” là buông bỏ vọng tưởng.
 
Không phải hình thức, mà là sự tỉnh thức. Chúng ta có thể nhớ tới ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ của thời nhà Trần: vượt qua dòng sông sinh tử phải có tâm như con trâu đất, bước xuống nước tới đâu là tan rã tới đó, Như thế mới thực sự là mặc áo giải thoát.
 
Về thăm lại tiếng chơn thường / Thăm vườn lam nhả khói thiêng Cõi Thiền...
 
Vâng, tiếng chơn thường là tiếng của bản thể bất sinh bất diệt, là tiếng của tâm không động, không vọng. Vườn lam là biểu tượng cho nơi thanh tịnh, nơi pháp giới giải thoát hiện tiền. Khói thiêng không phải là khói vật lý, mà là hương của giới-định-huệ lan tỏa trong không gian tâm linh. Thiền Tông không tìm về quá khứ hay tương lai, mà là trở về với chơn thường ngay trong phút giây hiện tại.
 
Ô hay, một góc trời yên / Một vườn hoa toả hương miền ngàn bay...
 
Đây là cảnh giới của tâm an trú. Góc trời yên là nơi không còn phân biệt, không còn vọng động. Yên là an. Và chữ an còn có nghĩa là giải thoát, là Niết bàn, là xa lìa phiền não. Vườn hoa tỏa hương là biểu tượng cho tâm khai mở, nơi mà mỗi niệm đều là một đóa hoa giác ngộ. Và ngay khi tâm không còn bị che phủ bởi vô minh, thì cảnh giới hiện tiền chính là Tịnh độ.
 
Thoảng trong gió, thoảng chân đài… / Gót sen thoát những cơn say bụi trần...
 
Thoảng chân đài không nên hiểu là đài sen phương Tây hay phương Đông, mà chính là nơi tâm như gương sáng, không vướng bụi. Gót sen là bước chân của người tỉnh thức, người đã thoát khỏi cơn say của ngũ dục, lục trần. Đài sen là biểu tượng của tâm thanh tịnh. Khi tâm như gương sáng, thì nơi nào cũng là đài sen.


 
Để hồn được phút lâng lâng / Trầm hương cửa Phật thoảng dần, thoảng xa...
 
Phút lâng lâng là tâm nhẹ nhàng, không còn bị trói buộc bởi danh lợi. Phải chăng đây là sơ thiền, nhị thiền... hay là khi định và huệ đều đẳng dụng? Trầm hương cửa Phật là hương của sự tỉnh thức, của giới hạnh, của từ bi. “Thoảng dần, thoảng xa” là sự lan tỏa của pháp vị, nơi không ngôn ngữ nào định vị được là gần hay xa, vì khi nhận ra ngũ uẩn là Không thì không còn cái gì để nói là đây, kia, đó, quá, hiện, vị lai...Đó mới là trầm hương cửa Phật.
Về thôi về lại chung nhà / Nhà Như Lai đón người xa quay về!
 
Nhà Như Lai không phải là một ngôi chùa vật lý, mà là pháp thân thanh tịnh, là nơi không sinh không diệt. Người xa quay về là người đã đi qua bao nhiêu vòng luân hồi, bao nhiêu mê lầm, nay trở về với chính mình. Trong Thiền Tông, hình ảnh “về nhà” là trở về với bản lai diện mục—khuôn mặt thật của mình, khi thấy không có cái gì là tôi hay của tôi, và thấy không có cái gì là người hay của người. Tất cả chỉ như bọt sóng trên sông, như quáng nắng chiều rơi.
 
Bài thơ “Về Thôi” là một lời mời gọi không phải để đổi áo, mà là mời gọi trở về với tâm tỉnh thức trong từng sát-na. Cởi áo Ta Bà là buông vọng tưởng. Mặc áo Cà Sa là khoác lên tâm từ bi và trí tuệ. Đài sen không ở phương Tây hay phương Đông, mà ở nơi tâm không còn bụi trần. Đó là khi đã nhận ra Phật tánh nơi chính mình.
 
Hy hữu nơi cõi này mới có một nhà thơ thiền sư như Thầy Thiện Trí. Xin mời gọi độc giả mở ra đọc chậm rãi, từng trang, từng dòng tập thơ Một Đóa Trà My. Xin mời nhìn vào từng dòng, từng chữ như đang nhìn theo ngón tay chỉ trăng. Xin lật từng trang và đọc cẩn trọng, kẻo làm vỡ hồn trăng.

California, tháng 9/2025.
.

MỘT ĐOÁ TRÀ MY
Kính mời quý đọc giả cùng “chúc mừng” tập thơ Một Đoá Trà My “nở ra” sau tập thơ “VẠT NẮNG PHÙ HƯ” của tác giả Thiện Trí. Tập thơ này hứa hẹn cùng quý độc giả những bài thơ bay nhẹ như tiết trời Thu. Nhẹ như một chiếc lá từ cành cao thả mình rơi vào dòng sông xanh biếc…Và hương thơm của Đoá Trà My thoảng gió hương miền gọi Mùa Xuân chợt giấc..!
 

Tặng nhau một Đoá Trà My
Cho hương thơm toả,
Cho “thi” thêm vầng

Cho đời đẹp tợ trăng rằm
Cho Từ Bi thắm cõi tâm sắc màu
Đoá Trà My
Xin tặng nhau
Mong người “TRI KỶ” bước vào hồn thơ
__________________
Liên lạc nhận tập thơ
Tel: 626-866-1653
Email: [email protected] 

Địa chỉ liên lạc
Tu Viện Phổ Quang
824 Sandy Lane
Fort Worth_Texas 76120

blank

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi đọc bài “Bên Bờ Tử Sinh” của nữ văn sĩ Đỗ Dung thuộc Ban Điều Hành diễn đàn Minh Châu Trời Đông, tôi cũng thấy lòng nhẹ nhàng theo, tác giả bị căn bệnh hiểm nghèo bác sĩ nói chỉ sống thêm vài năm nữa, mà nhờ nhiếp tâm thiền định, chẳng những thoát khỏi cây cầu sinh tử mà tác giả còn sống yêu đời và trở thành một nhà văn với nhiều sáng tác đi vào lòng độc giả.
Nguyễn Hưng Quốc cho rằng “Nhà thơ không làm ra chữ, chính chữ làm nên nhà thơ.” Vế thứ hai của bài thơ này thì có vẻ dễ hiểu, bởi vì chính người làm ra bài thơ thì mới được gọi là nhà thơ. Nhưng vế đầu của bài thơ thì không dễ hiểu tí nào cả, bởi vì “nhà thơ không làm ra chữ,” thì nhà thơ làm ra gì? Có lẽ chúng ta nên quay lại mật thất thứ hai trong đó ghi những bí quyết làm thơ thì chắc có câu trả lời. Đúng vậy, trong mật thất thứ hai, Nguyễn Hưng Quốc nói anh “hóa kiếp thành chữ,” và “nhập thể vào chữ.” Bởi thế, nhà thơ không còn đứng ngoài chữ để nói mình làm ra chữ. Nhà thơ là chữ. Chữ là nhà thơ. Và do vậy, nhà thơ họ Nguyễn mới nói “Bao giờ hắn cũng muốn viết một cái gì đó, nhưng chỉ khi hắn không viết, hắn mới thực là nhà thơ.”(649) Cao siêu! Đây quả là cảnh giới thượng thừa của nghệ thuật. Trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” có nhiều điều khác mà Nguyễn Hưng Quốc cảm tác về tình yêu, chuyện vợ chồng, biển, sóng nước, mây, gió, trăng, mưa, mùa thu, lá vàng, nắng, hoa, sương đêm,
Đọc những truyện ngắn Trần Doãn Nho viết từ trước 1975 đến thời gian gần đây, có thể thấy anh sáng tác trong ý thức sâu sắc về thể loại và nghệ thuật viết truyện ngắn. Truyện của anh luôn có sự đầu tư công phu về ý tưởng, hình ảnh, ẩn dụ, chủ đề… lồng trong cấu trúc chặt chẽ của tổng thể, trong đó các yêu cầu về miêu tả, tường thuật, đối thoại, diễn tiến, tư tưởng giữ một tỷ lệ hài hoà và hữu hiệu.
Nội dung của 60 bài pháp được nữ sĩ Ryoun Jokan ghi chép lại trong suốt năm nhập thất (đại kết thất) 1690, trước khi Thiền Sư Bankei Yotaku viên tịch 3 năm, là những việc hỏi đáp giữa Thầy và trò, giữa Thiền Sư và võ sĩ đạo, giữa người mù và người sáng mắt, giữa chấp có và chấp không v.v… chung quy là Tâm ấy chẳng sanh và Tâm ấy chẳng diệt. Tâm ấy cũng còn gọi là Phật Tâm hay Tâm Phật không sanh, Tâm Phật không diệt.
“Đôi khi Chàng gần, đôi khi Chàng xa / Chàng vẫn ngồi đâu đó từ hôm qua / Cho đến hôm nay, và ngày mai nữa / Dòng sông vẫn đầy và trôi đi xa.”
Cầm trên tay tuyển tập nhiều tác giả viết về Tiếng Hát Thu Vàng vừa mới xuất bản tại California, Hoa Kỳ, mà chị Thu Vàng nhờ nhà văn và nhà báo Phan Tấn Hải mang đến tặng cho anh chị em trong Tòa Soạn Việt Báo, đọc qua mục lục tôi thấy có khoảng 40 nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà báo, nhạc sĩ và họa sĩ viết về tiếng hát của nữ ca sĩ Thu Vàng. Tôi nghĩ tiếng hát của nữ ca sĩ Thu Vàng đã thực sự chinh phục được cảm tình của nhiều người nghe, trong đó có tôi.
Đối với người dân Sài Gòn, Trường Trung Học Marie Curie là một cái tên rất quen thuộc, bởi vì ngôi trường lấy tên của nữ khoa học gia đoạt 2 giải Nobel Vật Lý và Hóa Học này là một trong những ngôi trường lâu đời nhất – thành lập vào năm 1918 – của Hòn Ngọc Viễn Đông. Nhưng có lẽ ít ai, trong đó có tôi, biết rõ về thân thế sự nghiệp và những phát minh khoa học kỳ diệu đã mang lại vô số lợi ích cho đời sống nhân loại, mà điển hình nhất sự phát minh ra chất phóng xạ Radium của bà.
Có những người làm gì cũng hay, viết gì cũng hay. Tôi luôn luôn kinh ngạc về những người như vậy. Họ như dường lúc nào cũng chỉ ra một thế giới rất mới, mà người đời thường như tôi có ngó hoài cũng không dễ thấy ra. Đỗ Hồng Ngọc là một người như thế. Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ; dĩ nhiên ai cũng biết, bởi vì anh nổi tiếng hơn rất nhiều bác sĩ khác, và được báo chí phỏng vấn thường xuyên. Nhưng anh cũng nổi tiếng làm thơ hay từ thời sinh viên. Thơ của anh nhiều đề tài, có cả thơ Vu Lan, thơ tặng mẹ, thơ tình, thơ tặng em bé sơ sinh, thơ tặng bà bầu, và đủ thứ. Trong khi tôi đọc, thưởng thức, và thán phục các vần thơ tuyệt vời của anh, nhưng tận cùng thích nhất vẫn là đọc Đỗ Hồng Ngọc viết về Kinh Phật. Chính nơi lĩnh vực này, họ Đỗ viết gì cũng hay, viết ngắn cũng hay, viết dài cũng hay, viết về Thiền thở cũng hay, viết về ngũ uẩn giai không của Tâm Kinh cũng hay, viết về ưng vô sở trụ của Kinh Kim Cang cũng hay, viết về Kinh Pháp Hoa cũng hay, viết về Kinh Duy Ma Cật cũng hay. Và
Cả Trung Quốc, một cõi người đông như cỏ, mới có một tài năng thần kỳ như Bào Đinh, cắt thịt như gió xuyên qua lá, tưởng chừng là loạn đao, mà lại thứ tự lành nghề, đạt đến kỹ thuật cao, và nghệ thuật độc nhất vô nhị. Nhưng vài mươi năm sau, ông ta qua đời. Từ đó, không còn ai thừa kế. Tài năng vượt thời gian trở thành truyền thuyết. Về sau, biết bao nhiêu người vì truyền thuyết đã mơ tưởng tu luyện để tiến đến nghệ thuật kỳ tài. Vì không thể nào lưu truyền, tài năng cắt thịt không mang lại ích lợi chung là bao nhiêu.
“Tôi bảo cô em tôi, hoặc có thể nó bảo tôi, lại đây mình chơi trò cười nhé? Chúng tôi nằm sát nhau trên giường và bắt đầu trò chơi. Giả vờ, dĩ nhiên. Bắt phải cười. Cái cười buồn cười. Cái cười buồn cười đến nỗi nó khiến chúng tôi phải cười. Thế rồi tiếng cười thật sự ùa đến, cười điên dại, cười như nắc nẻ, hai chúng tôi như bị cuốn vào cơn triều cường khủng khiếp của cái cười. Cười phá lên từng tràng, cười hối hả, cười sằng sặc, cười không kềm hãm được, cười thỏa chí, cười tung hê, cười điên dại… Chúng tôi cười đến tận cùng của cái cười… Ôi, cười! Cười thích lắm, chẳng có gì thích bằng cười; cười là sống một cách sâu sắc.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.