Hôm nay,  

Giới Thiệu Tập Thơ "Một Đóa Trà My" của Thầy Thích Thiện Trí

24/10/202513:28:00(Xem: 4527)
blank

Giới Thiệu Tập Thơ "Một Đóa Trà My" của Thầy Thích Thiện Trí
 

Nguyên Giác / Thượng Tọa Thích Thiện Trí


VỀ THÔI

Về thôi, về mặc Cà Sa
Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương
Về thăm lại tiếng chơn thường
Thăm vườn lam nhả khói thiêng Cõi Thiền

Ô hay, một góc trời yên
Một vườn hoa toả hương miền ngàn bay
Thoảng trong gió, thoảng chân đài…
Gót sen thoát những cơn say bụi trần

Để hồn được phút lâng lâng
Trầm hương cửa Phật thoảng dần, thoảng xa
Về thôi về lại chung nhà
Nhà Như Lai đón người xa quay về!

--- Thiện Trí, 2025.
 

Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi.
Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương...
 
Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã. Tức là hội nhập vào tâm của các bậc Thánh Tăng như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên. Trong Thiền Tông, “mặc áo” là biểu tượng cho sự thọ nhận pháp, còn “cởi áo” là buông bỏ vọng tưởng.
 
Không phải hình thức, mà là sự tỉnh thức. Chúng ta có thể nhớ tới ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ của thời nhà Trần: vượt qua dòng sông sinh tử phải có tâm như con trâu đất, bước xuống nước tới đâu là tan rã tới đó, Như thế mới thực sự là mặc áo giải thoát.
 
Về thăm lại tiếng chơn thường / Thăm vườn lam nhả khói thiêng Cõi Thiền...
 
Vâng, tiếng chơn thường là tiếng của bản thể bất sinh bất diệt, là tiếng của tâm không động, không vọng. Vườn lam là biểu tượng cho nơi thanh tịnh, nơi pháp giới giải thoát hiện tiền. Khói thiêng không phải là khói vật lý, mà là hương của giới-định-huệ lan tỏa trong không gian tâm linh. Thiền Tông không tìm về quá khứ hay tương lai, mà là trở về với chơn thường ngay trong phút giây hiện tại.
 
Ô hay, một góc trời yên / Một vườn hoa toả hương miền ngàn bay...
 
Đây là cảnh giới của tâm an trú. Góc trời yên là nơi không còn phân biệt, không còn vọng động. Yên là an. Và chữ an còn có nghĩa là giải thoát, là Niết bàn, là xa lìa phiền não. Vườn hoa tỏa hương là biểu tượng cho tâm khai mở, nơi mà mỗi niệm đều là một đóa hoa giác ngộ. Và ngay khi tâm không còn bị che phủ bởi vô minh, thì cảnh giới hiện tiền chính là Tịnh độ.
 
Thoảng trong gió, thoảng chân đài… / Gót sen thoát những cơn say bụi trần...
 
Thoảng chân đài không nên hiểu là đài sen phương Tây hay phương Đông, mà chính là nơi tâm như gương sáng, không vướng bụi. Gót sen là bước chân của người tỉnh thức, người đã thoát khỏi cơn say của ngũ dục, lục trần. Đài sen là biểu tượng của tâm thanh tịnh. Khi tâm như gương sáng, thì nơi nào cũng là đài sen.


 
Để hồn được phút lâng lâng / Trầm hương cửa Phật thoảng dần, thoảng xa...
 
Phút lâng lâng là tâm nhẹ nhàng, không còn bị trói buộc bởi danh lợi. Phải chăng đây là sơ thiền, nhị thiền... hay là khi định và huệ đều đẳng dụng? Trầm hương cửa Phật là hương của sự tỉnh thức, của giới hạnh, của từ bi. “Thoảng dần, thoảng xa” là sự lan tỏa của pháp vị, nơi không ngôn ngữ nào định vị được là gần hay xa, vì khi nhận ra ngũ uẩn là Không thì không còn cái gì để nói là đây, kia, đó, quá, hiện, vị lai...Đó mới là trầm hương cửa Phật.
Về thôi về lại chung nhà / Nhà Như Lai đón người xa quay về!
 
Nhà Như Lai không phải là một ngôi chùa vật lý, mà là pháp thân thanh tịnh, là nơi không sinh không diệt. Người xa quay về là người đã đi qua bao nhiêu vòng luân hồi, bao nhiêu mê lầm, nay trở về với chính mình. Trong Thiền Tông, hình ảnh “về nhà” là trở về với bản lai diện mục—khuôn mặt thật của mình, khi thấy không có cái gì là tôi hay của tôi, và thấy không có cái gì là người hay của người. Tất cả chỉ như bọt sóng trên sông, như quáng nắng chiều rơi.
 
Bài thơ “Về Thôi” là một lời mời gọi không phải để đổi áo, mà là mời gọi trở về với tâm tỉnh thức trong từng sát-na. Cởi áo Ta Bà là buông vọng tưởng. Mặc áo Cà Sa là khoác lên tâm từ bi và trí tuệ. Đài sen không ở phương Tây hay phương Đông, mà ở nơi tâm không còn bụi trần. Đó là khi đã nhận ra Phật tánh nơi chính mình.
 
Hy hữu nơi cõi này mới có một nhà thơ thiền sư như Thầy Thiện Trí. Xin mời gọi độc giả mở ra đọc chậm rãi, từng trang, từng dòng tập thơ Một Đóa Trà My. Xin mời nhìn vào từng dòng, từng chữ như đang nhìn theo ngón tay chỉ trăng. Xin lật từng trang và đọc cẩn trọng, kẻo làm vỡ hồn trăng.

California, tháng 9/2025.
.

MỘT ĐOÁ TRÀ MY
Kính mời quý đọc giả cùng “chúc mừng” tập thơ Một Đoá Trà My “nở ra” sau tập thơ “VẠT NẮNG PHÙ HƯ” của tác giả Thiện Trí. Tập thơ này hứa hẹn cùng quý độc giả những bài thơ bay nhẹ như tiết trời Thu. Nhẹ như một chiếc lá từ cành cao thả mình rơi vào dòng sông xanh biếc…Và hương thơm của Đoá Trà My thoảng gió hương miền gọi Mùa Xuân chợt giấc..!
 

Tặng nhau một Đoá Trà My
Cho hương thơm toả,
Cho “thi” thêm vầng

Cho đời đẹp tợ trăng rằm
Cho Từ Bi thắm cõi tâm sắc màu
Đoá Trà My
Xin tặng nhau
Mong người “TRI KỶ” bước vào hồn thơ
__________________
Liên lạc nhận tập thơ
Tel: 626-866-1653
Email: [email protected] 

Địa chỉ liên lạc
Tu Viện Phổ Quang
824 Sandy Lane
Fort Worth_Texas 76120

blank

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tập sách nhắc đến tiệm phở gần đầu đường Nghĩa Phát, vừa từ đường Bành Văn Trân rẽ vào, là tiệm của bác Huyền, người cùng giáo họ Long Cù, xứ Trực Chính với thày u tôi, là những gia đình công giáo theo các cha di cư vào Nam. Đó là tiệm phở đầu tiên nằm trong giáo xứ Nghĩa Hoà. Được sinh ra và lớn lên trong giáo xứ này, tôi muốn chia sẻ thêm về những quán phở ở Nghĩa Hoà. Sau phở bác Huyền, vào đầu thập niên 1970 có một tiệm phở nữa cũng trên đường Nghĩa Phát gần đầu nhà thờ. Còn theo đường Nghĩa Hoà phía cuối nhà thờ, đi vào đến ngã tư ông Nghìn có tiệm phở của ông giáo Chung.
Đây là tác phẩm thứ 5 trong chuỗi sách góp phần tư duy và thảo luận cho tiến trình dân chủ hóa, được viết và giới thiệu bởi tác giả Đào Tăng Dực. Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm mới nhất của tôi nêu trên. Đây là tác phẩm thứ 5 trong chuỗi sách góp phần tư duy và thảo luận cho tiến trình dân chủ hóa.
Đây là một tuyển tập đặc biệt của Tạp chí Ngôn Ngữ, chủ đề về Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành tháng 5 năm 2024. Nhan đề sách còn là “Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc: Bằng Hữu & Văn Chương.” Sách dày 716 trang, bao gồm tiểu sử, thơ và văn xuôi của vị bác sĩ nổi tiếng, khi làm thơ ký tên là Đỗ Nghê và khi viết văn xuôi ký tên thật là Đỗ Hồng Ngọc. Và phần cuối là tác phẩm của hơn 60 nhà văn, nhà phê bình, họa sĩ và nhạc sĩ viết về, vẽ chân dung, phổ thơ Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc. Tất cả các thơ, văn, bài viết trong tuyển tập đều xuất sắc.
Quý vị có bao giờ tự hỏi cảm giác thật sự khi thốt ra từ “thù ghét” là gì? Như khi nói “tui ghét người đó” hay “tui ghét ăn rau,” chúng ta có thể đang thể hiện sự không hài lòng, căm phẫn, tức giận hoặc có thể là đơn giản chỉ là không thích mà thôi. Từ điển Merriam-Webster mô tả từ “thù ghét” là “sự thù địch và ác cảm mãnh liệt thường xuất phát từ cảm giác sợ hãi, tức giận hoặc cảm giác bị tổn thương.” Trên khắp thế giới, các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu về sự thù ghét từ các lĩnh vực như giáo dục, lịch sử, pháp luật, lãnh đạo, tâm lý học, xã hội học và nhiều ngành khác.
Tôi thích đọc “thơ ngắn” của Đỗ Nghê. Những bài thơ “ý tại ngôn ngoại,” đọc đi đọc lại, mỗi lần đọc đều nhận ra thêm một cái gì mới, khác, mở ra những chiều kích bát ngát hương thơm...
Tôi vừa được nhà văn Duy Nhân tức Nguyễn Đức Đạo trao tặng tập truyện “Trọn Đời Yêu Thương”. Sách dày 336 trang với trang bìa được trình bày thật đơn giản nhưng nội dung rất súc tích. Tập truyện gồm có 29 bài văn xuôi và 7 bài thơ...
Cầm trên tay tập thơ “Thơ hai dòng & cỏ biếc” của anh Trần Hoàng Vy gởi tặng mà thấy vui chi lạ. Tập thơ đẹp, trang nhã và tươi rói như còn thơm mùi mực. Tập thơ dày 148, được ấn hành bởi nhà xuất bản Nhân Ảnh, tháng 4/2024...
Lịch sử Phật Giáo thế giới hơn hai mươi lăm thế kỷ qua không thiếu những câu chuyện có sức thu hút đặc biệt về những đấng minh quân đem Chánh Pháp của đức Phật ra để trị quốc. Chẳng hạn, Vua A-dục (Aśoka – 304-232 BC) ở Ấn Độ, Vua Lương Võ Đế (464-549) ở Trung Hoa, Vua Songtsän Gampo (thế kỷ thứ 7 Tây lịch) ở Tây Tạng, Thánh Đức Thái Tử (574-622) ở Nhật Bản, Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) ở Việt Nam, v.v…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.