Hôm nay,  

THẾ LÀ

12/03/202010:46:00(Xem: 4501)

 

Thế là mùng hai 
Hải ngoại mùa xuân chưa sang 
Dư âm cố quận 
Lan toả 
Mang mang trong đất trời
Này em ơi!
Dường như không đợi 
Mà ta gặp
Mà ta thấy 
Nơi này

Cố quận vào xuân rộn ràng biết bao, thật ra thì rộn ràng những ngày trước tết chứ sau tết thì im lặng vô cùng. Cái gì cũng vậy khi lên hết đỉnh cao thì laị xuống tận cùng, cơn sóng hay biểu đồ hình sin trong toán học cũng thế. Đời cũng thế, vạn vật muôn loài cho đến xã hội loài người đều thế cả! Cái vòng luân hồi hay chu kỳ sinh trưởng ( theo cách gọi của khoa học) nó quay miên viễn. Sanh- tử, tử - sanh bất tận. Đông tàn thì xuân sang, xuân qua thì hạ tới... thế là ta đã già thêm một tuổi, thế là ta đã bước gần hơn nữa trên con đường trần! 
Thế là mùng hai tết mặc dù trời phương ngoại vẫn còn đông, không hiểu sao hôm nay nhiệt độ lên cao, nắng vàng đẹp thế! từng đàn ngỗng trời bay về kêu rộn rã trên không trung. Có lẽ âm hưởng mùa xuân cố quận lan toả trong đất trời. Hoa thuỷ tiên đã nở vàng sân, một tháng nữa xuân sang. Em ở đâu? có hay chăng mùa xuân đã sẵn sàng! Đất trời mang mang hay lòng người mang mang?   Em ở đâu, không về xúng xính trong áo lụa mùa xuân? Em ở đâu? mắt biếc bên đời cho người say chếch choáng! ngày xem hoa nở, đêm ngắm trăng lên. Em ở đâu? mùa xuân không chờ đợi. 
Thế là ta gặp! thế là ta thấy! thế là mê! vì mê nên cho rằng mình thấy, nhưng không thấy cũng là mê. Cái mê không thấy và cái mê thấy ấy vậy mà khác nhau nghìn trùng. Người vốn thiên hình vạn trạng, nhân tâm bất đồng nên cái thấy cũng chẳng giống nhau! Cái thấy của người này thì kẻ khác cho là mê nhưng cái không thấy của kẻ khác người khác nữa cũng chẳng cho là tỉnh! Nếu trên đường đời xuôi ngược mà may mắn, mà hưũ duyên gặp được người có cùng tần số sóng âm giao động thì may ra cái thấy mới tương đồng! thế là thiên hạ cho là tri kỷ, tri âm. Thế là thiên hạ bảo:" đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu" ! thế nhưng ở đời này dễ mấykhi, dễ mấy ai...


Thế là mùa xuân cố quận đang qua đi, để chuẩn bị cho một mùa xuân sau sẽ đến. Hoa đào năm xưa của Thôi Hộ ( Đời Đường) có khác gì hoa đào trong Hoàng Hoa trang của gã du tử chăng? cái này gã không biết, thiên hạ biết không thì gã cũng không biết. Hoa mai của thiên hạ và hoa mai của Mãn Giác thiền sư thì nhất định khác rồi! Hoa mai của ngài vĩnh viễn, không đợi xuân sang để nở mà cũng chẳng tàn khi xuân đi. Hoa mai của ngài thì bất tận chứ chẳng ở trên cành mai! 
Thế là một ngày ta chợt thấy mình già hơn một ngày, một giây già hơn một giây. Già nửa cuộc chơi mà vẫn ngẩn ngơ ngơ ngẩn giữa cuộc đời này, một ngày nào bất chợt đi theo mùa xuân vĩnh viễn thì cũng chẳng có gì lạ hay buồn. Chỉ mong có ai đọc cho gã du tử vài vần thơ mà gã ta từng tâm đắc trong đời! mắt biếc nào trong đời ngồi ngắm trời mây bay. 
Thế là nơi này, nơi này là nơi nào? ở đâu? bao giờ? có thật chăng? 
Thế là gã đã gặp, gặp ai? tự bao giờ? gặp thế nào?
Quả thật là: 
Thập phương hư không bất ly đương xứ
Cổ kim tam thế bất ly đương niệm 
Người muôn năm cũ, người ngàn năm sau cũng "gặp" nhau  nơi này, taị đây, ngay phút giây này! 
Người mắt biếc, người vóc hạc, người thanh vận... như hoa đào Thôi Hộ, hoa đào Hoàng Hoa trang... Gặp nhau nhưng chẳng đắc được bao giờ, vĩnh viễn không bao giờ! nếu một mai đắc được thì làm sao có được nhữngvần thơ ( đào hoa y cựu) thao thức cả ngàn năm nay! làm sao có được. “Em ở đâu chẳng về đây đếm lá” ( thơ TLTP). Người mắt biếc trong thơ thiền sư Tuệ Sĩ mới tài tình làm sao! thiền sư vẽ nên người mắt biếc làm cho tao nhân mặc khách trên cõi đời này phải nghiêng mình bái phục! không thể nào đẹp hơn, không thể nào hay hơn nữa! ngôn ngữ liêu trai thần thánh của ngài góp cho đời một người mắt biếc đẹp, liêu trai đến ngẩn ngơ đời. Người mắt biếc vô tiền khoáng hậu này làm cho gã ngỡ mình "gặp" tại đây, ở nơi này nhưng bóng trăng dưới đáy nước làm sao vớt được? thế là mê, thế là mơ, thế là ngẩn ngơ du tử!

 

TIỂU LỤC THẦN PHONG 

Ất Lăng thành, 1/2020

 

Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
Ban giám khảo mô tả cuốn sách là một tác phẩm của “nỗi buồn chói sáng”, với văn phong trầm mặc, tiết điệu như thì thầm và không khí nặng tính ám ảnh. Theo bài tường thuật của The New York Times, đây mới là lần thứ ba trong lịch sử 51 năm của giải NBCC mà một tiểu thuyết dịch được trao giải cao nhất ở hạng mục tiểu thuyết. Lần gần nhất điều này xảy ra là năm 2008, khi 2666 của Roberto Bolaño, do Natasha Wimmer dịch từ tiếng Tây Ban Nha, thắng giải; trước đó, năm 2001, Austerlitz của W.G. Sebald, do Anthea Bell chuyển ngữ từ tiếng Đức, cũng được vinh danh. Việc Han Kang được chọn cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng kể của văn chương dịch thuật trong đời sống phê bình văn học Hoa Kỳ.
Ban biên tập Việt Báo chọn mở đầu mục “Ngọn Đèn Còn Thắp” với Albert Camus. Camus không giải thích thế giới. Ông sống với nó. Giữa phi lý, ông tìm ra ba điều: nổi loạn, tự do, đam mê. Thời đại chúng ta, sự phi lý không còn là triết học. Nó là tin tức mỗi ngày. Đọc lại Camus là học cách thắp lại ngọn đèn.
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.