Hôm nay,  

(mắng) yêu

16/03/202009:49:00(Xem: 4575)

 

* thời Cồ Vít, Vít Cồ Cồ *

 

ĐÍNH CHÍNH

 

CON nít. CON mắt lớn. LỚN hơn cái bụng. LỚN hơn rất nhiều.

 

Mỗi lần thấy Con lấy nhiều thức ăn, thì Mẹ hồ hởi, phấn khởi, luôn miệng khen Con ăn giỏi. Con nở mũi, khoái chí được Mẹ khen và cũng muốn ăn nhiều cho mau lớn.

 

Nhưng muốn thì muốn vậy, mà bao tử nó chẳng chìu! Ăn nửa chừng là ứ hò hen. Phải ngưng. Làm sao giờ? Ăn không xong là… mất mặt, vì mình đã oai phong lẫm liệt múc nhiều mà! Mẹ không cần ngó cũng biết. Mẹ nguýt một cái ngọt sớt, hỏi:

 

-       No rồi hả? Ăn hông nổi chứ gì!

-       Dạ!

-       Để đó đi. Mẹ ăn phụ cho. Lần sau lấy vừa đủ. Con ăn xong, rồi muốn ăn nữa thì lấy thêm nghe.

 

Con nịnh, chạy qua ôm hun Mẹ cái chét thiệt dài:

 

-       Con cám ơn Mẹ ăn phụ con!

 

Mẹ giả bộ hất Con ra, lầu bầu:

 

-       Phụ gì! Ăn cặn thì có!

 

Bữa nào mà Con làm biếng ăn, ham chơi, hoặc bỏ đi đọc sách, Mẹ sẽ dẫn chứng thống kê. Ngay như ở Tiểu Bang Vàng the Golden State California này, mà trẻ em vẫn bữa đói bữa no. Cứ tám đứa trẻ thì một đứa không biết khi nào sẽ được ăn bữa kế (http://www.cafoodbanks.org/hunger-factsheet). Mà cay đắng ở chỗ, Califorina lại sản xuất gần nửa số rau quả của Hoa Kỳ, và còn xuất khẩu đi nhiều nơi khác trên thế giới. Qua tuốt Việt Nam nữa. “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi.” Đừng tưởng chỉ có ở Việt Nam thời Bà Tú. Cảnh đó vẫn có ở Thiên Đường Mỹ Quốc. Ở đâu cũng có người khổ. Có khoảng 4.6 triệu người, tức 11.7% dân California, sống trong tình trạng thiếu ăn (food insecurity). Tại Tiểu Bang Vàng, có 1.7 triệu trẻ em, tức 19%, hay 1 trong 5 trẻ em, phải ôm bụng đói đi ngủ. Có 7.9 triệu người dân California sống trong nghèo đói. Theo thống kê của U.S. Census Bureau’s Supplemental Poverty Measure, California có tỷ lệ nghèo đói cao nhất nước, ở mức 20.6%. Nạn thất nghiệp ở mức 5.4%. Bây giờ, con Cồ Vít nó quậy, thì con nhà nghèo càng khổ hơn. Trường học công sở đóng cửa. Con cái không đến trường. Cha mẹ không có việc làm. Lấy gì nuôi con?

 

Bởi vậy mà Mẹ hay than vãn khi các Con ham chơi:

-       Con người ta không có cơm để ăn. Tụi con được ăn cơm nhà mỗi ngày mà còn õng ẹo.

 

Ít bữa sau, Con lại mắt lớn bụng nhỏ. Hay là tại đầu óc đang chập chờn quyển truyện tranh mới mua nên ăn không xong cũng không chừng. Con lần qua chỗ Mẹ, làm ngoại giao:

 

-       Mẹ ơi, Mẹ ăn cặn dùm con nghe!

 

Mẹ nghe Con nói thì giật mình cái phặt, vội vàng đính chính:

 

-       Không phải! Mẹ ăn phụ con. Không phải ăn cặn.

-       Sao bữa trước Mẹ nói ăn cặn mà?

-       Ờ, Mẹ mắng yêu cho vui thôi! Chứ Con nói Mẹ ăn cặn dùm con là hỗn, con hiểu hôn? Ăn phụ. Ăn phụ. Ừ, ăn phụ.

 

Đó! Mắng yêu chi cho khổ! Con mà nói theo là Mẹ sính vính! Mẹ ơi, liệu mà chừa cái tật nghe Mẹ! Cái này không có chuyển ngữ mà vẫn bị ‘lost in translation.’ Nhất sao đã thất bổn. Cần gì đến ba lần?

 

MẮNG MÀ YÊU

 

Trong thập niên vừa qua, ngày càng có nhiều thầy cô giáo đưa ra đề nghị xin ủy lạo cho học sinh nghèo liên quan đến nhu yếu phẩm để đáp ứng nhu cầu ăn mặc, “warmth, care, and hunger” như áo ấm, đồ vệ sinh, và thức ăn trong số 1.8 triệu yêu cầu trên DonorsChoose

(http://blogs.edweek.org/teachers/teaching_now/2020/02/an_analysis_of_almost_2_million_donorschoose_requests_shows_funding_inequities.html). Đó là bởi vì thống kê của chính phủ liên bang cho thấy càng ngày càng có nhiều học sinh vô gia cư tại Hoa Kỳ (https://nche.ed.gov/data-and-stats/).

 

Theo Tuần Báo Giáo Dục, thì số học sinh vô gia cư lên cao nhất tại Mỹ từ trước tới nay, tăng 11%, và có nhiều em không có bất cứ người lớn nào để chăm lo cho mình, khiến cho các trường học trên toàn quốc phải đối diện nhiều thử thách (Education Week, February 11, 2020: 

https://www.edweek.org/ew/articles/2020/02/12/number-of-homeless-students-hits-all-time-high.html).

 

Mẹ thấy con người ta khổ, Mẹ thương. Mẹ thấy các Con không phải khổ, Mẹ cũng thương. Mẹ mừng là các Con không phải sống trong cảnh tù đày độc đảng như lúc Mẹ còn nhỏ. Nhưng thương là vì, Mẹ xót xa khi không được đưa các Con về thăm quê ở bên kia biển Thái. Biển thì nhiễm độc, rừng thì bị khai thác vô ý thức, văn hóa thì còi cọt, ngôn ngữ thì đã biến thái. Thăm gì? Bây giờ thì con Cồ Vít nó lại tung hoành và đã tràn đi từ Châu Á tới Châu Âu, Châu Phi, đi khắp nơi. Không dám bước.

 

Nên mỗi lần nhớ nhà nhớ quê, Mẹ lại mủi lòng. Có một buổi trưa, Mẹ chở các Con đi ngang một con đường vắng ở Quận Cam, chợt nghe tiếng vọng cổ phát ra từ một căn nhà nào đó. Gió trong, nắng thanh, người vắng. Mẹ tự hỏi, đây có phải là quê nhà? Không có đồng xa nước lợ như ở miền Tây quê Mẹ, không có nước lớn nước ròng như con sông Cái sau nhà, không có rừng dừa nước ngày nào làm ‘đám lá tối trời' che chở cho đoàn quân kiên trung của anh hùng dân tộc Trương Công Định. Mà sao chỉ một âm thanh đơn sơ giữa đất khác mà lòng vẫn xuyến xao.

 

Mẹ tức bụng không có người san sẻ. Mẹ nói một mình:

 

-       Sao giống ở Việt Nam quá! Mà tụi con có hiểu đâu mà nói.

 

Con Cả nghe lóm được, lập tức phản đối:

 

-       Mẹ nói cho con nghe đi. Con hiểu mà!

 

Nghe Con nói, Mẹ càng mủi lòng. Nhưng Mẹ vẫn nghĩ bụng: ở đó hai chục năm mới hiểu. Con chưa về, làm sao mà thấu cho đặng?

 

MẮNG KHÔNG YÊU

 

Mỗi lần các Con nghịch ngợm, Mẹ giơ cao đánh khẽ, bảo ban đủ điều. Bữa nào mệt quá, Mẹ sẽ gọi cho Bà Ngoại để méc:

 

-       Mẹ coi, ba thằng khỉ...

 

Mẹ chưa kịp nói xong thì ba ‘thằng khỉ' đồng thanh nhao nhao:

 

-       Ứ! Tụi con không phải là khỉ!

 

Con Út ngọng nghịu:

 

-       Con không phải là ‘hỉ.' Con là ‘nhười.’

 

Chẳng những là ‘khỉ' mà còn là khỉ ngọng nữa! ‘Nhười' gì? “Nhười ươi” thì có! Phá như giặc!

 

-       Ứ! Con hông phải là giặc! Con ‘nhoan’ mà!

 

Ngoan gì? Từ nhỏ tới lớn, không anh nào thua anh nào. Chưa ba tuổi đã suốt ngày ‘tiền phá hậu báo:’

 

-       Mẹ, đổ, đổ. Mẹ, phá phá.

 

Bằng chứng hả? Mở video lên thì biết liền! Mẹ mắng yêu các Con chán, thì quay sang mắng yêu Bà Ngoại:

 

-       Mẹ coi! Cháu ngoại của Mẹ đó! Chịu nổi hông?

 

Bà Ngoại cũng mắng lại, mà không biết có yêu không:

 

-       Thì con hư tại Mẹ. Còn nói gì nữa!

 

Hứ. Mắng yêu thôi mà. Việc gì phải lớn tiếng tự bào chữa vậy!

 

Bởi vậy, những người được yêu thường thích được mắng. Nhưng những người hay mắng

chưa chắc đã hay yêu. Có khi thương đứt ruột mà không yêu. Cũng lạ.

 

Cho nên, phân biệt được mắng có yêu và mắng không yêu là cốt lõi của đời người vậy.

 

Quận Cam, đầu tháng Ba, 2020

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bạn hãy giữ lòng cho thật vui để ra đi. Trang sách cuối của Hợp Lưu bây giờ đã khép lại. Tay của bạn đã thả rơi ngòi bút và cọ màu. Bạn đã nằm xuống sau một đời lặn lội. Hãy gối đầu lên những kệ sách ký ức. Đã tới lúc bạn hãy buông xả hết, để tự thấy đời mình trôi theo dòng sông chữ nghĩa, nơi đã chép xuống những gì đẹp nhất của thế hệ chúng ta. Bạn hãy giữ lòng cho thật vui để ra đi. Cuộc đời luôn luôn là những bước ra đi. Bạn không có gì để nuối tiếc trong đời này. Bạn đã tự vắt kiệt máu trong tim ra để làm sơn cho tranh vẽ và để làm mực cho những trang báo. Nơi đó là ước mơ của yêu thương và hòa giải. Nơi đó là sự ngây thơ nghệ sĩ mà chúng ta đã đem tặng cho đời.
Khoảng thời gian bắt đầu vào đại học, ngoài những lúc phải học những bài sinh hóa khô khan, tôi tìm đến văn chương tiếng Việt qua các tạp chí như Văn Học, Văn, và Hợp Lưu. Khác với Văn và Văn Học vốn mang không khí “cổ điển”, Hợp Lưu, với chủ biên sáng lập là nhà văn Khánh Trường, bung mở một cánh cửa đón nhiều cây bút mang phong cách táo bạo, thể nghiệm, trong cả hai lãnh vực thơ và văn, đến từ trong và ngoài Việt Nam. Gặp nhiều chống đối vào những năm đầu vì có sự góp mặt của những nhà văn trong nước, nhưng Khánh Trường vẫn bất chấp, tiếp tục xây dựng Hợp Lưu thành một diễn đàn văn chương mở rộng vì “các thể chế chính trị rồi sẽ qua đi, nhưng văn học nghệ thuật sẽ còn tồn tại dài lâu, nhiệm vụ của chúng ta hôm nay là phải tìm cách bảo tồn, xiển dương những giá trị kia, không phân biệt phe phái, chính kiến.” (trả lời phỏng vấn của Đỗ Lê Anh Đào trên damau.org, ngày 22 tháng 9, 2006).
Khu Nursing Home gồm bốn dãy nhà quây thành hình vuông. Mỗi dãy có tám phòng, cửa mở ra chái hiên rộng, lát gạch hoa có tam cấp dẫn vào mảnh vườn trồng nhiều cây trái nhiệt đới: mít, xoài, nhãn lồng, xen kẽ những loại cây và hoa đậm chất đông phương: tùng, liễu, mẫu đơn, phật quả, thiết mộc lan và hồ rộng, thiết kế mỹ thuật. Những con thác từ các mỏm đá cao đổ xuống tung bọt trắng xóa, đàn cá koi nhởn nhơ quanh các bụi thủy trúc, rải rác nhiều khóm liễu vươn ra từ bờ, sà thấp chạm mặt nước. Mùa hè, sáng, chiều, luôn có các lão niên ngồi trên những băng ghế đá, dưới các gốc cây phủ kín bóng mát bởi những tàn lá rộng, hóng gió, tán gẫu hoặc bày trò vui.
Năm 1988, tại Nam Cali có cuộc bầu cử ban chấp hành lâm thời của Văn bút Việt nam Hải ngoại, nhà văn Nhật Tiến làm chủ tịch. Sau đó có các ban ngành này kia truyền thông, báo chí gì đó và tôi được chỉ định làm việc với Khánh Trường. Đó là lần đầu tôi gặp anh, 1 người điệu đà, mặc đồ trắng và quần có giây lưng, tuy dáng dấp khoan thai nhưng có cái gì đó dục giã giấu bên trong và nét bất bình loáng thoáng ở hàng râu mép.
Gần đây tôi tới thăm Khánh Trường (KT) nhiều lần ở trong mấy căn nhà đầu đường rất dễ kiếm trong khu mobile home trên đường Bolsa, nhiều lần tới nỗi mỗi khi xe chạy ngang đây thì Ngọc Ánh nhắc: ‘Hay ta vào thăm KT.’ Không được tiếp xúc với KT khi tôi còn ở bên Texas, chỉ liên lạc nhiều khi đã chuyển về Nam CA thôi, lúc KT đã bị lọc thận hàng chục năm rồi. Lần nào tới cũng thấy KT lọc cọc đẩy xe lăn ra mở cửa, với nụ cười hiền trên môi và cái bắt tay rất thân thiết, chí tình. Trong những lần đó, tôi cố ý nắm tay KT thiệt lâu, lâu hơn thời gian cần thiết của những cái bắt tay bằng hữu.
Tôi chạy tới nhà thương như một quán tính, tìm chỗ đậu xe một cách dễ dàng, nơi đây tôi đã ra vào quen thuộc, nơi đây tôi sắp sống với một cuộc chia ly mới. Tôi quen lắm hành lang phòng ICU, quen lắm với hình ảnh Bác Mai Thảo, Bác Đỗ Ngọc Yến, với Bố, với Mẹ... Và nay hình ảnh một thân quen quá đỗi hiện ra trước mắt - chú Khánh Trường! đang nhắm nghiền mắt, đang thoi thóp thở... Chị Hoà Bình ôm vai tôi, siết thật chặt. Hai chị em chẳng nói với nhau một lời, nhưng tôi hiểu, cả hai chị em, đang lục tìm trong quá khứ, để sống lại những ngày thật đằm thắm bên chú.
Bây giờ thì tôi biết rồi: từ nguồn hợp lưu, những dòng chảy lại tìm về chính mình, đơn hành vào một cõi khác. Như anh Khánh Trường...
Trận đấu giữa Khánh Trường và anh Thần Chết đã qua tới phút 89. Phần thắng nghiêng hẳn về anh thần trang bị bằng chiếc lưỡi hái. Cô cháu Hòa Bình nhắn tin cho tôi vào lúc 3 giờ 45 phút chiều ngày 24/12/2024, giờ Montreal: “Chú vẫn không tỉnh. Chắc gia đình sẽ rút ống soon”. Vậy là tên thần vênh váo chuyên bắt người đang ở thế thượng phong.
Tôi bắt đầu nghe tên anh khi đọc bài viết “Khánh Trường, Sức Mạnh Của Im Lặng” của họa sĩ Đinh Cường vào tháng 1/2012 nhân dịp anh bày 30 bức tranh Thiền...
(Orange County, CA) Sau đúng hai tuần hôn mê, họa sĩ/nhà văn Khánh Trường cuối cùng đã bỏ cuộc thế gian vào chiều Chủ Nhật, ngày 29 tháng 12, 2004, lúc 4:33PM giờ California tại bệnh viện UCI Health, thành phố Fountain Valley trong niềm thương tiếc của gia đình và bằng hữu. Hoạ sĩ Khánh Trường tên thật là Nguyễn Khánh Trường, sinh năm 1948, ở Quảng Nam, gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1968, giải ngũ năm 1972 vì bị thương. Khánh Trường vượt biên đến Thái Lan năm 1987, định cư tại Hoa Kỳ năm 1988. Sự đóng góp của anh vào văn học Việt Nam hải ngoại không nhỏ vì ngoài vẽ tranh, triển lãm tranh, anh cũng là một nhà văn tên tuổi, viết với vài bút hiệu khác như Kim Thi, Nguyễn Thị Giáng Châu. Khánh Trường đã xuất bản nhiều tác phẩm và từng là chủ biên của tạp chí Hợp Lưu, Hoa Kỳ, từ 1990 đến 2005.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.