Hôm nay,  

Thế Giới Giờ Này

04/06/202112:58:00(Xem: 6153)
mask
Minh họa: Đinh Trường Chinh



Thế giới giờ này ai ai cũng hóa ra T-pop (chữ T thay thế cho chữ Thế giới),

từ trẻ sơ sinh cho đến cụ già chuẩn bị yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng,

giờ này ai ai cũng khẩu trang che mũi, miệng và cằm, kiểu K-pop, V-pop.

 

Thế giới giờ này rộn ràng khẩu trang,

đủ mầu, đủ kiểu, đủ hình dạng!

Từ kiểu khẩu trang phòng mổ, mầu xanh xanh.

Cho tới kiểu sát thủ Ninja, màu đen máu lạnh,

Hoặc lính trận rằn ri, loang lổ da beo,

Hoặc nữ tính, mầu hồng hồng dễ thương chi lạ!

 

Thế giới giờ này đeo khẩu trang là “à-la-mode,”

Mình với ta khẩu trang tông-soẹt-tông, “tuy hai là một.”

 

Thế giới giờ này thiên hạ sáng sáng lười biếng không đánh răng xúc miệng.

Ăn sáng xong, ta bước vào công sở, hoặc chiều về ta ghé ngang chợ mua miếng thịt, trái sầu riêng,

cũng chẳng ai hay ta biếng lười vệ sinh răng miệng.

Xã hội giãn cách! Khẩu trang cản lại, chặn mùi hôi, răng thối, lưỡi dơ!

Bàn chải đánh răng từ ngày Covid lên ngôi bị quẳng thẳng vào xó.

Hãng kem đánh răng, thuốc nước xúc miệng, tha hồ ế độ! Nha sĩ buồn so!

 

Thế giới giờ này răng sún, răng sâu, răng hô, răng vàng ố!

Miệng móm, miệng vẩu, miệng méo, miệng vêu!

Covid vào đời, khẩu trang che kín hết.

Những đường nhăn chân chim chạy dọc theo hoặc tua tủa đâm ra hai bên khóe mép,

Tự nhiên biến tan! Cũng nhờ khẩu trang!

Thiên hạ giờ này, ai nhìn cũng trẻ ra phết.

Chẳng phải bởi mỹ phẩm, nhưng nhờ khẩu trang.

Khẩu trang giờ này hóa ra vị bác sỹ thẩm mỹ đôi tay thần kỳ, nhưng giá lại rẻ cực!

 

Thế giới giờ này ta ngửi được mùi của ta.

Mùi thơm tho, viết tắt t.t., đọc 2 tê;

hoặc mùi thối, viết tắt t., đọc 1 tê;

2 tê hoặc 1 tê, ta đều tự ngửi tự thưởng thức.

Cũng nhờ khẩu trang, ta nhận ra ta, chân dung thật thà.


Thế giới giờ này trở nên mênh mông một cõi thiền Yoga.

Ta chăm chú vào chính hơi thở ta.

Thiền từng giờ, thiền từng phút, thiền từng giây!

Khẩu trang giờ này hóa ra tu sĩ của một môn phái thiền mới: Thiền Khẩu Trang!

 

Giờ này thiên hạ ai cũng khẩu trang, cứ như khẩu trang tạo ra căn tính!

Không khẩu trang, không phải người!

Ông thần Descarte nếu từ ngôi mộ xanh xanh cỏ ngồi bật dậy sẽ cười,

“Tôi đeo khẩu trang, cho nên, tôi biết tôi sống.”

Riêng Plato kể chuyện người tù trong hang (bị xích chân từ thủa bẩm sinh) phiên bản mới,

“Khi quay trở về hang, hắn kể chuyện với bạn cùng hang động, ‘Tau thấy thiên hạ ai ai cũng đeo khẩu trang mi nạ.’ Bạn nối khố nổi giận, tặng cho mấy gậy, quyết định gửi hắn đi bán muối!”

 

Thế giới giờ này người né người!

Ngồi trên xe bus gắn máy lạnh, hoặc xe bò cọc cạch lăn bánh,

người ngồi xa người, khoảng cách an toàn, một thước rưỡi.

Anh xa tôi! Tôi xa em! Ta xa nhau! Đúng 2 thước.

Giờ này đôi ta hôn nhau nụ hôn gió qua khẩu trang!

Ai đó lỡ miệng ách-xì một, hoặc hai tiếng, hoặc một tràng;

Hết rồi những ánh mắt ái ngại,

những lời nói cảm thông, “God bless,” hoặc “Trời, Phật, Chúa chữa!”

“Oh, no!” Xưa rồi! Thay vào đó, trăm ngàn con mắt hình viên đạn xuất hiện, hướng về phía người mới lỡ mũi!

Thiên hạ ai đó lỡ miệng không kềm hãm được mồm, ho khan mấy tiếng hoặc lỡ dại đi luôn một hồi gõ mõ! Thế là xong!

Trần gian, đang như kiến lửa hoảng loạn vỡ tổ, ngay lập tức trở nên nhịp nhàng đồng dạng: mặt nhăn nhăn tựa thù cha chưa trả!

Có người bấm chuông xe bus, đứng dậy, bỏ xuống xe, thà là lết bộ dưới trời nắng trưa nung lửa mùa hạ! Chậm! Nhưng sống sót mặc dù đen cháy làn da!

 

Chẳng bao lâu nữa, con người theo luật tiến hóa sẽ phát triển bộ gene di truyền mới, bộ “antisocial.” Con người sẽ không được định nghĩa là “social beings” nữa. Giờ này tôi một mình sống, một mình chơi game điện tử, một mình coi phim trên Utube! Vậy là vui. Trái đất (thế là) yên lặng sa mạc. Thương xá, xe hơi, xe đạp, đường trải nhựa thênh thang mấy lằn, freeway bắt cao mấy tầng chồng chéo trở nên đồ cổ. Tất cả bám rêu xanh, chực chờ giây phút sụp đổ!

Ông triết gia Hegel sẽ lúng túng với triết lý người ta cần một người khác để xác định “tôi hiện hữu!”

 

Thế giới giờ này chẳng ai bắt tay ai,

Chỉ đụng nhau qua những nắm đấm, anh đấm tôi, tôi đấm chị!

Hoặc những cú đá chân, chân cô gái tuổi mộng mơ đá chân cậu con trai mới lớn,

Chân bố đá chân dài tới nách của con gái!

Chân mẹ đá chân vòng kiềng số tám của con trai!

Thế giới rộn ràng đấm đá nhau!

Giờ này đấm đá trở nên dấu hiệu của hòa bình và của cả hòa giải!

 

Thế giới giờ này thiên hạ năm ngày ngồi trong nhà bếp làm việc kỹ sư, điện tử!

Buổi họp sáng thứ Hai đầu tuần, xếp lớn và các trưởng phòng gặp nhau qua Zoom,

báo cáo tuần qua, công tác tuần tới,

Ai cũng nghe giọng nói (rõ ràng), nhìn thấy đầu (tóc chải đẹp), cổ (thắt cà-vạt)! Nhìn nét và chất như tài tử xi-nê Titanic lúc đang ăn tiệc trong khoang hạng nhất.

Nhưng, nếu không mặc quần tây đi giầy da, hoặc váy đẹp guốc cao gót 10 phân, mà chỉ là quần đùi xà-loỏng, chân đất,

trưởng phòng và xếp lớn của đại công ty điện toán Thung Lũng Silicon cũng chả biết.

Giản đơn! Nóng nực mùa hè phía trên, mát mẻ mùa thu phía dưới! Một chuẩn mực mới!

 

Thế giới giờ này cô dâu chú rể trao đổi lời thề hôn ước qua màn ảnh máy vi tính.

Hai bên hôn nhau, nụ hôn đầu đời vợ chồng cũng qua hai màn ảnh!

Ông Linh mục thánh giá áo đen, hoặc Sư thầy chuỗi bồ đề áo vàng, hoặc Đạo sỹ áo trắng bát quái. Cả ba đại diện Thiên Chúa, Đức Phật, Thần Khí chúc lành tân lang tân nương cũng qua màn ảnh!

Quan họ hai bên, bố mẹ chồng bố mẹ vợ cũng hiện diện qua rất nhiều màn ảnh!

Mẹ đeo kiềng vàng nặng lên cổ con dâu, vàng 24 sáng lấp lánh bởi vàng ba số 999 chính hiệu, cũng qua màn ảnh!

Cô dâu đôi mắt vẽ chì thâm đen long lanh hạt lệ, má phấn hồng e lệ nói, “Con cảm ơn mạ,” cũng qua màn ảnh!

Tham dự qua mạng xã hội, nhưng ai cũng đều phải đeo khẩu trang đủ màu đủ kiểu, và giữ khoảng cách an toàn.

 

“Ủa! Điều chi xảy ra vậy cà?” Thế giới năm 2020, 2021, giờ này bạn hỏi ta!

Người đơn thuần có thể sẽ nhún vai, rất tây ba-lô, rồi phán,

“Ông (bà) thần nước mặn!

Tỉnh dậy đi! Mở mắt ra mà nom nom cho kỹ hộ tôi!

Vi khuẩn SARS-CoV-2 vô hình nhè nhẹ bước chân vào đời hữu hình, đổi thay tất cả! Thế thôi!”.


Nguyễn Trung Tây


*Tác giả từng nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ năm 2010.
Ông là một Linh mục Dòng Truyền giáo Ngôi Lời thuộc tỉnh dòng Chicago.  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thông thường người ta thỏa thuận những tác phẩm và những tác giả đó thuộc về văn học bản xứ với phụ đề “gốc Việt.” Thỏa thuận đó đặt cơ bản trên ngôn ngữ, có tên gọi “ngôn ngữ chính thống”, còn tiếng Việt là “ngôn ngữ thiểu số.” Tất cả những ý nghĩa này được nhìn thấy và định nghĩa từ những người bản xứ của ngoại ngữ. Còn người Việt, chúng ta nhìn thấy và nghĩ như thế nào? Hai tập thơ tiếng Hán của Nguyễn Du, thuộc về văn học Trung Quốc hay Việt Nam? Những bài viết, sách in tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Latin của các học giả và các linh mục dòng tên, thuộc về văn học nào?
Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v., nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha. Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.
Giải thưởng cho thể loại Tiểu Thuyết (Fiction) về tay nhà văn Percival Everett với tác phẩm James. Tiểu thuyết James là sự tái hiện nhân vật Huckleberry Finn trong tiểu thuyết Adventures of Huckleberry Finn của văn hào Mark Twain. Nhà văn Percival Everett kể lại góc nhìn của Jim, người bạn đồng hành của Huck bị bắt làm nô lệ trong chuyến du lịch mùa Hè. Trong James, Percival Everett đã trao cho nhân vật của Jim một tiếng nói mới, minh họa cho sự phi lý của chế độ chủng tộc thượng đẳng, mang đến một góc nhìn mới về hành trình tìm kiếm gia đình và tự do.
Văn học miền Nam tồn tại mặc dù đã bị bức tử qua chiến dịch đốt sách và cả bắt bớ cầm tù đầy đọa những người cầm bút tự do sau ngày Cộng sản Bắc Việt chiếm lĩnh miền Nam. Chẳng những tồn tại mà nền văn học ấy đã hồi sinh và hiện đang trở thành niềm cảm hứng cho các thế hệ Việt kế tiếp không chỉ ở hải ngoại mà còn cả trong nước. Có lẽ chưa có một nền văn học nào trên thế giới đã có thể thực hiện được những thành quả trong một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế hệ như vậy. Bài viết này sẽ tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam trong 20 năm, từ 1954 tới 1975, một trong hai thời kỳ văn học phát triển có thể nói là rực rỡ và phong phú nhất của Việt Nam (sau nền văn học tiền chiến vào đầu thế kỷ 20). Tiếp theo là việc khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ của Việt cộng. Và kế là những nỗ lực cá nhân và tự nguyện để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại và hiện trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ Việt..
Văn học luôn được xây dựng trên tác giả, tác phẩm và độc giả, với những cơ chế tất yếu là báo, tạp chí văn học, nhà xuất bản, mạng lưới văn chương, và phê bình. Gần đây thêm vào các phương tiện thông tin xã hội. Trên hết là quyền lực xã hội nơi dòng văn học đang chảy, bao gồm chính trị, tôn giáo. Giá trị của một giai đoạn văn học được đánh giá bằng những thành phần nêu trên về sáng tạo và thẩm mỹ qua những cơ chế như tâm lý, ký hiệu, cấu trúc, xã hội, lịch sử… Việc này đòi hỏi những nghiên cứu mở rộng, đào sâu theo thời gian tương xứng.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
“Cơn mưa di tản trở về giữa quá khứ và hiện tại, giữa người chết và người sống. Đó là lăng kính mà mọi thứ đã được chắt lọc qua. Những năm tháng trở nên trong suốt như nước. Những gì chúng ta thấy là những hình dạng mờ nhạt đang trôi về nguồn. Tất cả những viễn cảnh và cách diễn giải của chúng ta khi chúng ta quay trở về là đường nét chuyển động của người khác. Để tồn tại, chúng ta đã di tản qua thời gian, và để nói, chúng ta học ngôn ngữ của mưa.”
Bạn tắt hết điện thoại, truyền hình, bạn gập lại các quyển sách đang đọc. Bạn ngồi một mình trong căn phòng nhỏ, khóa kín cửa, hay bạn ngồi trên một tảng đá trong rừng, hay bạn ngồi giữa chợ, điều ấy không quan trọng. Bạn không cần phải thực hành bất kì một lễ nghi tôn giáo, yoga hay thiền nào cả.
Một trong những thành tựu quan trọng đáng tự hào của cộng đồng người Việt là sự thành công của những cây bút người Mỹ gốc Việt, kể câu chuyện Việt góp phần vào nền văn học lưu vong Việt Nam cũng như góp mặt vào dòng văn học chính Hoa Kỳ. Bài giới thiệu sách này thuộc loạt bài giới thiệu các tác giả, tác phẩm thuộc dòng văn học thế hệ thứ nhất-thứ hai, trong thời điểm 50 Năm Nhìn Lại, từ biến cố tháng Tư, 1975.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.