Hôm nay,  

Thế Giới Giờ Này

04/06/202112:58:00(Xem: 6394)
mask
Minh họa: Đinh Trường Chinh



Thế giới giờ này ai ai cũng hóa ra T-pop (chữ T thay thế cho chữ Thế giới),

từ trẻ sơ sinh cho đến cụ già chuẩn bị yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng,

giờ này ai ai cũng khẩu trang che mũi, miệng và cằm, kiểu K-pop, V-pop.

 

Thế giới giờ này rộn ràng khẩu trang,

đủ mầu, đủ kiểu, đủ hình dạng!

Từ kiểu khẩu trang phòng mổ, mầu xanh xanh.

Cho tới kiểu sát thủ Ninja, màu đen máu lạnh,

Hoặc lính trận rằn ri, loang lổ da beo,

Hoặc nữ tính, mầu hồng hồng dễ thương chi lạ!

 

Thế giới giờ này đeo khẩu trang là “à-la-mode,”

Mình với ta khẩu trang tông-soẹt-tông, “tuy hai là một.”

 

Thế giới giờ này thiên hạ sáng sáng lười biếng không đánh răng xúc miệng.

Ăn sáng xong, ta bước vào công sở, hoặc chiều về ta ghé ngang chợ mua miếng thịt, trái sầu riêng,

cũng chẳng ai hay ta biếng lười vệ sinh răng miệng.

Xã hội giãn cách! Khẩu trang cản lại, chặn mùi hôi, răng thối, lưỡi dơ!

Bàn chải đánh răng từ ngày Covid lên ngôi bị quẳng thẳng vào xó.

Hãng kem đánh răng, thuốc nước xúc miệng, tha hồ ế độ! Nha sĩ buồn so!

 

Thế giới giờ này răng sún, răng sâu, răng hô, răng vàng ố!

Miệng móm, miệng vẩu, miệng méo, miệng vêu!

Covid vào đời, khẩu trang che kín hết.

Những đường nhăn chân chim chạy dọc theo hoặc tua tủa đâm ra hai bên khóe mép,

Tự nhiên biến tan! Cũng nhờ khẩu trang!

Thiên hạ giờ này, ai nhìn cũng trẻ ra phết.

Chẳng phải bởi mỹ phẩm, nhưng nhờ khẩu trang.

Khẩu trang giờ này hóa ra vị bác sỹ thẩm mỹ đôi tay thần kỳ, nhưng giá lại rẻ cực!

 

Thế giới giờ này ta ngửi được mùi của ta.

Mùi thơm tho, viết tắt t.t., đọc 2 tê;

hoặc mùi thối, viết tắt t., đọc 1 tê;

2 tê hoặc 1 tê, ta đều tự ngửi tự thưởng thức.

Cũng nhờ khẩu trang, ta nhận ra ta, chân dung thật thà.


Thế giới giờ này trở nên mênh mông một cõi thiền Yoga.

Ta chăm chú vào chính hơi thở ta.

Thiền từng giờ, thiền từng phút, thiền từng giây!

Khẩu trang giờ này hóa ra tu sĩ của một môn phái thiền mới: Thiền Khẩu Trang!

 

Giờ này thiên hạ ai cũng khẩu trang, cứ như khẩu trang tạo ra căn tính!

Không khẩu trang, không phải người!

Ông thần Descarte nếu từ ngôi mộ xanh xanh cỏ ngồi bật dậy sẽ cười,

“Tôi đeo khẩu trang, cho nên, tôi biết tôi sống.”

Riêng Plato kể chuyện người tù trong hang (bị xích chân từ thủa bẩm sinh) phiên bản mới,

“Khi quay trở về hang, hắn kể chuyện với bạn cùng hang động, ‘Tau thấy thiên hạ ai ai cũng đeo khẩu trang mi nạ.’ Bạn nối khố nổi giận, tặng cho mấy gậy, quyết định gửi hắn đi bán muối!”

 

Thế giới giờ này người né người!

Ngồi trên xe bus gắn máy lạnh, hoặc xe bò cọc cạch lăn bánh,

người ngồi xa người, khoảng cách an toàn, một thước rưỡi.

Anh xa tôi! Tôi xa em! Ta xa nhau! Đúng 2 thước.

Giờ này đôi ta hôn nhau nụ hôn gió qua khẩu trang!

Ai đó lỡ miệng ách-xì một, hoặc hai tiếng, hoặc một tràng;

Hết rồi những ánh mắt ái ngại,

những lời nói cảm thông, “God bless,” hoặc “Trời, Phật, Chúa chữa!”

“Oh, no!” Xưa rồi! Thay vào đó, trăm ngàn con mắt hình viên đạn xuất hiện, hướng về phía người mới lỡ mũi!

Thiên hạ ai đó lỡ miệng không kềm hãm được mồm, ho khan mấy tiếng hoặc lỡ dại đi luôn một hồi gõ mõ! Thế là xong!

Trần gian, đang như kiến lửa hoảng loạn vỡ tổ, ngay lập tức trở nên nhịp nhàng đồng dạng: mặt nhăn nhăn tựa thù cha chưa trả!

Có người bấm chuông xe bus, đứng dậy, bỏ xuống xe, thà là lết bộ dưới trời nắng trưa nung lửa mùa hạ! Chậm! Nhưng sống sót mặc dù đen cháy làn da!

 

Chẳng bao lâu nữa, con người theo luật tiến hóa sẽ phát triển bộ gene di truyền mới, bộ “antisocial.” Con người sẽ không được định nghĩa là “social beings” nữa. Giờ này tôi một mình sống, một mình chơi game điện tử, một mình coi phim trên Utube! Vậy là vui. Trái đất (thế là) yên lặng sa mạc. Thương xá, xe hơi, xe đạp, đường trải nhựa thênh thang mấy lằn, freeway bắt cao mấy tầng chồng chéo trở nên đồ cổ. Tất cả bám rêu xanh, chực chờ giây phút sụp đổ!

Ông triết gia Hegel sẽ lúng túng với triết lý người ta cần một người khác để xác định “tôi hiện hữu!”

 

Thế giới giờ này chẳng ai bắt tay ai,

Chỉ đụng nhau qua những nắm đấm, anh đấm tôi, tôi đấm chị!

Hoặc những cú đá chân, chân cô gái tuổi mộng mơ đá chân cậu con trai mới lớn,

Chân bố đá chân dài tới nách của con gái!

Chân mẹ đá chân vòng kiềng số tám của con trai!

Thế giới rộn ràng đấm đá nhau!

Giờ này đấm đá trở nên dấu hiệu của hòa bình và của cả hòa giải!

 

Thế giới giờ này thiên hạ năm ngày ngồi trong nhà bếp làm việc kỹ sư, điện tử!

Buổi họp sáng thứ Hai đầu tuần, xếp lớn và các trưởng phòng gặp nhau qua Zoom,

báo cáo tuần qua, công tác tuần tới,

Ai cũng nghe giọng nói (rõ ràng), nhìn thấy đầu (tóc chải đẹp), cổ (thắt cà-vạt)! Nhìn nét và chất như tài tử xi-nê Titanic lúc đang ăn tiệc trong khoang hạng nhất.

Nhưng, nếu không mặc quần tây đi giầy da, hoặc váy đẹp guốc cao gót 10 phân, mà chỉ là quần đùi xà-loỏng, chân đất,

trưởng phòng và xếp lớn của đại công ty điện toán Thung Lũng Silicon cũng chả biết.

Giản đơn! Nóng nực mùa hè phía trên, mát mẻ mùa thu phía dưới! Một chuẩn mực mới!

 

Thế giới giờ này cô dâu chú rể trao đổi lời thề hôn ước qua màn ảnh máy vi tính.

Hai bên hôn nhau, nụ hôn đầu đời vợ chồng cũng qua hai màn ảnh!

Ông Linh mục thánh giá áo đen, hoặc Sư thầy chuỗi bồ đề áo vàng, hoặc Đạo sỹ áo trắng bát quái. Cả ba đại diện Thiên Chúa, Đức Phật, Thần Khí chúc lành tân lang tân nương cũng qua màn ảnh!

Quan họ hai bên, bố mẹ chồng bố mẹ vợ cũng hiện diện qua rất nhiều màn ảnh!

Mẹ đeo kiềng vàng nặng lên cổ con dâu, vàng 24 sáng lấp lánh bởi vàng ba số 999 chính hiệu, cũng qua màn ảnh!

Cô dâu đôi mắt vẽ chì thâm đen long lanh hạt lệ, má phấn hồng e lệ nói, “Con cảm ơn mạ,” cũng qua màn ảnh!

Tham dự qua mạng xã hội, nhưng ai cũng đều phải đeo khẩu trang đủ màu đủ kiểu, và giữ khoảng cách an toàn.

 

“Ủa! Điều chi xảy ra vậy cà?” Thế giới năm 2020, 2021, giờ này bạn hỏi ta!

Người đơn thuần có thể sẽ nhún vai, rất tây ba-lô, rồi phán,

“Ông (bà) thần nước mặn!

Tỉnh dậy đi! Mở mắt ra mà nom nom cho kỹ hộ tôi!

Vi khuẩn SARS-CoV-2 vô hình nhè nhẹ bước chân vào đời hữu hình, đổi thay tất cả! Thế thôi!”.


Nguyễn Trung Tây


*Tác giả từng nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ năm 2010.
Ông là một Linh mục Dòng Truyền giáo Ngôi Lời thuộc tỉnh dòng Chicago.  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi một tác giả hoàn tất xong một bản thảo của một tác phẩm mới, câu hỏi đầu tiên có lẽ tác giả sẽ tự nêu lên rằng: ai sẽ đọc những dòng chữ này của mình? Hẳn là Thầy Tuệ Sỹ cũng có suy nghĩ như thế khi hoàn tất bản thảo tác phẩm “Lý Hạ: Bàn Tay Của Quỷ” vào ngày 19/1/1975. Xin chú ý con số rất tiền định: 1975. Người viết đã hình dung ra hình ảnh Thầy Tuệ Sỹ đứng nơi Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh nhìn ra sân trường, khi Thầy vừa hoàn tất tác phẩm trên khoảng gần nửa thế kỷ trước. Thầy Tuệ Sỹ đã suy nghĩ gì khi cất bản thảo trên vào một góc kệ sách và rồi đời Thầy sẽ không còn thì giờ để mở ra xem nữa? Những gì đời sau biết về nhà thơ Lý Hạ của Trung Hoa không nhiều như các nhà thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Lý Thương Ẩn... Nhà thơ Lý Hạ tuổi thọ chỉ khoảng 25 hoặc 26 hoặc 27 tuổi. Năm sinh của Lý Hạ mơ hồ: tiểu sử trên Wikipedia ghi rằng họ Lý sinh năm 790 hoặc 791.
Đêm sông Hậu, trăng khuyết chiếu mờ mặt sông, sóng ì ọp vỗ mạn thuyền. Đôi khi một bầy chim ăn đêm bay qua sát đầu chúng tôi, cánh chúng xòe ra trong trăng. Đôi khi những con dơi bay chập choạng trong tối như những linh hồn người chết trở lại thăm bạn cũ. Chúng tôi thì thào vào tai nhau những câu chuyện nghe được từ dân làm nghề sông nước. Có lúc sự kiểm soát không gay gắt lắm, chúng tôi được phép lên sàn thuyền ngồi hóng gió. Đôi khi một chiếc ghe nhỏ đi ngang qua, ông chủ thuyền kêu lại mua thêm thức ăn. Không khí ngày tết rộn ràng, tiếng hò trên sông, tiếng máy thuyền, tiếng mua bán nói cười ầm ĩ vọng lại từ một đời sống nửa thực nửa mơ. Một người phụ nữ ngồi trên thuyền vá lại chiếc áo rách cho chồng, như thể chị đang ngồi trong một căn bếp ở thôn xóm an bình nào đó
“Làm nghệ sĩ là một lời cam kết với đồng loại rằng những vết rách của kiếp sống sẽ không biến ta thành kẻ sát nhân,” Louise Bourgeois từng viết trong nhật ký thuở thiếu thời. “Những kẻ làm thơ — tôi muốn nói: mọi nghệ sĩ — rốt cuộc là những kẻ duy nhất biết sự thật về chúng ta,” James Baldwin từng viết ở tuổi ba mươi, “…không phải binh lính, càng không phải chính khách… chỉ có thi sĩ.” Và sự thật ấy, cách ta yêu, cách ta cho đi, và cách ta chịu đựng –là chính bản thể của ta.
Tờ Việt Báo Kinh Tế số 28 ngày 13 tháng 2 năm 1993 có đăng bài thơ “Lửa, Thấy Từ Stockholm” của nhà thơ Trần Dạ Từ, nhân tuần lễ nhà văn Thảo Trường thoát khỏi nhà tù lớn đến định cư ở Hoa Kỳ. Đây là bài thơ Trần Dạ Từ viết từ 1989 rời Việt Nam, khi được các bạn Văn Bút Thụy Điển mời ăn cơm chiều, Ông nhớ đến bạn còn ở trong tù khổ sai dưới chân núi Mây Tào, Hàm Tân. 33 năm đã trôi qua kể từ ngày chúng ta chào đón nhà văn Thảo Trường đến Hoa Kỳ, 15 năm kể từ ngày Thảo Trường từ bỏ thế gian, Chiều Chủ Nhật tuần này, 22 tháng Sáu, nhân dịp tái xuất bản bốn cuốn sách của Thảo Trường (Hà Nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng; Người Khách Lạ Trên Quê Hương; Ngọn Đèn; Lá Xanh), bạn bè văn hữu và gia đình cùng tề tựu tưởng nhớ Nhà Văn. Việt Báo trân trọng mời độc giả cùng đọc, cùng nhớ nhà văn lớn của chúng ta, một thời, một đời.
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Theo một ý nghĩa nào đó, Farrington đóng vai trò là một kiểu người có thể thay thế hoặc tồn tại ở bất cứ đâu, có thể là một nhân vật đặc trưng nào đó nhưng cũng có thể là một người bình thường. Bằng cách chọn chủ thể như thế, Joyce đưa Farrington vào bối cảnh đường phố Dublin và gợi ý rằng sự tàn bạo của gã không có gì là bất thường. (Lời người dịch).
Thông thường người ta thỏa thuận những tác phẩm và những tác giả đó thuộc về văn học bản xứ với phụ đề “gốc Việt.” Thỏa thuận đó đặt cơ bản trên ngôn ngữ, có tên gọi “ngôn ngữ chính thống”, còn tiếng Việt là “ngôn ngữ thiểu số.” Tất cả những ý nghĩa này được nhìn thấy và định nghĩa từ những người bản xứ của ngoại ngữ. Còn người Việt, chúng ta nhìn thấy và nghĩ như thế nào? Hai tập thơ tiếng Hán của Nguyễn Du, thuộc về văn học Trung Quốc hay Việt Nam? Những bài viết, sách in tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Latin của các học giả và các linh mục dòng tên, thuộc về văn học nào?
Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v., nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha. Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.
Giải thưởng cho thể loại Tiểu Thuyết (Fiction) về tay nhà văn Percival Everett với tác phẩm James. Tiểu thuyết James là sự tái hiện nhân vật Huckleberry Finn trong tiểu thuyết Adventures of Huckleberry Finn của văn hào Mark Twain. Nhà văn Percival Everett kể lại góc nhìn của Jim, người bạn đồng hành của Huck bị bắt làm nô lệ trong chuyến du lịch mùa Hè. Trong James, Percival Everett đã trao cho nhân vật của Jim một tiếng nói mới, minh họa cho sự phi lý của chế độ chủng tộc thượng đẳng, mang đến một góc nhìn mới về hành trình tìm kiếm gia đình và tự do.
Văn học miền Nam tồn tại mặc dù đã bị bức tử qua chiến dịch đốt sách và cả bắt bớ cầm tù đầy đọa những người cầm bút tự do sau ngày Cộng sản Bắc Việt chiếm lĩnh miền Nam. Chẳng những tồn tại mà nền văn học ấy đã hồi sinh và hiện đang trở thành niềm cảm hứng cho các thế hệ Việt kế tiếp không chỉ ở hải ngoại mà còn cả trong nước. Có lẽ chưa có một nền văn học nào trên thế giới đã có thể thực hiện được những thành quả trong một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế hệ như vậy. Bài viết này sẽ tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam trong 20 năm, từ 1954 tới 1975, một trong hai thời kỳ văn học phát triển có thể nói là rực rỡ và phong phú nhất của Việt Nam (sau nền văn học tiền chiến vào đầu thế kỷ 20). Tiếp theo là việc khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ của Việt cộng. Và kế là những nỗ lực cá nhân và tự nguyện để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại và hiện trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ Việt..
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.