Hôm nay,  

Tiễn Anh

09/12/202200:00:00(Xem: 11301)
 
Bài điếu văn đọc tại Tang Lễ của BS Phạm Gia Cổn ngày 8 tháng 12, tại chùa Bảo Quang.
Gia đình Việt Báo xin thành kính phân ưu cùng chị Kiều Hạnh và tang quyến.
 
Hình 1
 Bác Sĩ Phạm Gia Cổn (1942-2022)
  
Chúng ta có mặt hôm nay để đưa tiễn một chiến hữu thân thương về chốn vĩnh hằng.

Tôi biết BS. Phạm Gia Cổn lúc tôi vừa tập tễnh bước vào đời lính,  nhận trách nhiệm làm y sĩ trưởng cho Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, cùng một tiểu đoàn mà BS. Cổn vốn là y sĩ tiền nhiệm 2 năm trước. Tôi lội bộ theo TĐ, Anh làm chỉ huy trưởng Bệnh Viện Dã Chiến Đỗ Vinh tại căn cứ Non Nước, Đà Nẵng. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau ở BV Dã Chiến khi tôi theo trực thăng chuyển thương binh. Tôi nhìn thấy anh cao lớn, rất phong độ, uy dũng, với 3 bông mai đen ở cổ áo hoa rừng và dấu hiệu 3 đấm tay của Đệ Tam Đẳng Huyền Đai Tae Kwon Do ở túi áo trước ngực bên trái. Nhìn vào Anh, tôi có cảm giác như một tảng đá mạnh bạo, có tinh chất võ biền mà mình có thể dựa lưng khi cần. Dù hình tướng có vẻ rất quân kỷ, nhưng thái độ anh lại hòa nhã, ăn nói nhẹ nhàng, cởi mở nhưng trực tính. Anh đã cho tôi sự tự tin và niềm vui trong tình huynh đệ. Về sau, tôi cũng biết tin anh được đề cử làm Y Sĩ Trưởng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù trong trận bảo vệ phòng truyến Phan Rang vào đầu tháng 4, 1975.

Hình 2

Mùa Hè Đỏ Lửa - 1972


Mãi sau này, khi định cư tại Hoa Kỳ, tôi mới nghe lại tên của Anh, nhưng do bận rộn với sinh kế lại ở tiểu bang xa, nên phải một thời gian khá dài về sau, tôi bắt đầu sinh hoạt với nhóm Quân Y Nhảy Dù tại Nam Cali, và có những lần gặp gỡ với Anh, khi thì tại Cà-phê Factory, nghe Anh kể chuyện cổ tích trong khi cùng nhau đốt vài ba điếu thuốc, khi lại cùng với các niên trưởng Trần Tấn Phát (RIP), Nguyễn Văn Cơ, DS. Mai Minh Chí, DS. Nguyễn Mậu Trinh từ xa đến thăm… Lúc cần những chi tiết hay tài liệu về quân sử, nhất là về các đơn vị Nhảy Dù, với tên và chức tước của các niên trưởng, tôi thường nhờ đến Anh; hay khi tôi viết những bài liên hệ về Nhảy Dù, tôi cũng chia sẻ với Anh. Về phía Anh thỉnh thoảng cũng chuyển tôi những bản nhạc do Anh sáng tác mà anh biết tôi rất thích vì cùng sở thích với nhau. Chúng tôi từng chung lưng đón chào các niên trưởng Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù trong một tiệc hội ngộ vào tháng 9, 2019 tại Little Saigon, và gặp nhau hằng như mỗi năm tại các tiệc Tất Niên,Tân Niên hay các buổi họp quan trong của chi hội Gia Đình Mũ Đỏ Nam Cali.  Do ở xa Little Saigon, tôi không học Khí Công Hoàng Hạc với Anh, dù hiện diện nhiều lần những khi Hoàng Hạc sinh hoạt chung trong cộng đồng.

Kính thưa quý vị, qua nhiều lần tiếp xúc với Anh, và nhất là qua bài “Vài Góc Cạnh Trong Cuộc Đời Tỵ Nạn” do Anh viết và đăng trong Đặc San Đại Hội YND tại Hoa Thịnh Đốn năm 2015, tôi biết Anh tốt nghiệp Y Khoa Saigon năm 1971, thuộc khóa 18 Quân Y Hiện Dịch, đã từng làm những công việc tầm thường như bao nhiêu người Việt di tản đến nước Mỹ sau 1975, nào là y công, phụ bếp rửa chén trong nhà hàng tàu… Anh cố gắng tìm cách đi học lại, vào được nội trú tại ĐH Chicago năm 1978, học tiếp chuyên môn Gây Mê tại Illinois, rồi fellowship về Critical Care tại Florida. Năm 1982 Anh được nhận vào trong ban giảng huấn của ĐH UCLA và về hưu trí sau 28 năm giảng dạy tại trường đại học danh tiếng này. Trong quá trình giảng dạy, Anh từng là thuyết trình viên tại các hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh, Hán Thành, Hồng Kông và tại các hội thảo y khoa ở Mỹ.

Ngoài những sinh hoạt chuyên môn y khoa, BS. Cổn còn sinh hoạt với tổng hội sinh viên VN, mở các khóa hội thảo, văn nghệ, biễu diễn võ thuật, tổ chức Health Fair trong các hội chợ Tết. Do những hoạt động nói trên, Anh từng được bầu làm chủ tịch Hội Y Sĩ Nam Cali, chủ tịch Hội Y Sĩ VN tại Hoa Kỳ, chủ tịch Ban Chấp Hành Trung Ương Gia Đình Mũ Đỏ trong 2 nhiệm kỳ, Chủ Nhiệm Đặc San Mũ Đỏ trong nhiều năm… Là một người Việt tỵ nạn, BS. Cổn luôn sát cánh với cộng đồng người Việt tỵ nạn CS và từng nhiều lần ra tay vạch rõ và làm sáng tỏ lằn ranh Quốc Cộng đối với những cá nhân bị phân hóa vì tư lợi hay tham vọng. Với tính thẳng thắn nhưng phát biểu điềm đạm và cư xử lịch sự, những người khác chính kiến với anh vẫn phải vị nể Anh. Những đụng chạm vì chính nghĩa nói trên khiến cộng đồng người Việt càng thấy rỏ tinh thần bất khuất của Anh nên càng quý phục và thương mến Anh.

Song song với chuyên môn y khoa, BS. Cổn còn nổi bật về những kiến thức võ thuật, mà Anh bắt đầu có từ khi còn trong nước. Tôi được cho biết Anh từng theo học Nhu Đạo, võ Tây Sơn Nhạn, võ cổ truyền Thiếu Lâm Thất Sơn. Tại Mỹ, Anh là một Master Đệ Bát Đẵng Huyền Đai Hapkaido và là chủ tịch Tổng Hội Hapkido Việt - Hàn. Đến khi Anh tự mình sáng lập, phát triển và bành trướng môn Khí Công Hoàng Hạc – là một môn võ nhạc dựa trên 4 thế “Bấm, Vòng, Vươn, Buông”- chú trọng vào hô hấp, cử động nhẹ nhàng và từ tốn, gây tác động tốt trên tâm ý, nhất là cho người cao niên - BS Phạm Gia Cổn đã chính thức trở thành một Grand Master theo đúng nghĩa của nó.

Kính thưa quý vị, nói hay viết về BS Phạm Gia Cổn mà không nhắc đến tinh thần và sự nghiệp văn nghệ của Anh là một thiếu sót lớn. Đúng vậy, từ bao nhiêu năm trước, cộng đồng được nhìn thấy Anh dưới hình ảnh một nghệ nhân say sưa thổi kèn saxo, và kèn đồng; riêng một mình, hay khi phối hợp với tiếng hát của ca sĩ, hay chơi trong ban nhạc do anh sáng lập mang tên “The Star Band”.  Và cũng đã từ lâu nhạc do Anh sáng tác, đa số phổ từ những bài thơ của thân hữu, càng được mến chuộng, nhất là trong giới quân y sĩ và cựu quân nhân với nhau. Nếu bàn luận về bản chất nghệ sĩ của BS Phạm Gia Cổn và phân tích những sáng tác của Anh, chắc cần phải nhiều giờ đồng hồ nhưng vẫn chẳng đủ.  Cá nhân tôi rất ngưỡng mộ tài nghệ sáng tác nhạc của Anh, và cảm nhất là những bản nhạc như: Một Ngày Mũ Đỏ Một Đời Mũ Đỏ, Tiễn Anh, Tóc Mây, Cung Buồn…nhưng đặc biệt xúc động yêu thích 2 bản Đã Một LầnĐường Chim Khuya. Trong chốc lát, tôi sẽ mời quý vị lần lược thưởng thức các bản nhạc nói trên. Như một vinh danh người nhạc sĩ tài ba Phạm Gia Cổn của chúng ta.

Tôi xin tạm dừng nơi đây, mời quý vị lắng nghe bản Đường Chim Khuya – một sáng tác mới nhất của Anh trong năm 2022 –mà tôi nghĩ như một bày tỏ hoài niệm của chính cuộc đời Anh)
 
 
 
Tin Anh vào bệnh viện lan truyền nhanh chóng trên diễn đàn Quân Y Nhảy Dù và các diễn đàn thân hữu xa gần, được các niên trưởng đón nhận một cách dè dặt và quan tâm lúc ban đầu, nhưng liền sau đó có niềm tin Anh khả quan sau giải phẩu. Đang định chờ đến thăm anh, nhưng bất ngờ nhận tin Anh từ trần giữa sáng ngày 30 tháng 11, 2022. Thật quá đột ngột và bàng hoàng! Quá sửng sốt và đau xót. Là những tính từ diễn tả tâm trạng chung của chúng tôi. 

Vậy nhưng, với tôi, cái chết của Anh mang nhiều ý nghĩa sâu đậm của bi hùng tráng. Nó như cái chết nhanh chóng của một con người quân tử, khi bị vây hãm bởi một tình cảnh khắc nghiệt, cái chết ấy được nhìn thấy dưới góc cạnh của một thái độ hiên ngang chấp nhận, tránh cho người đời nhìn thấy ta bất khiển dụng, còm cõi ngày tháng trên giường bệnh hay ngặt nghèo trên xe lăn, trong khi mình đã và đang là một hình ảnh kính nể thương mến của đồng đội của cộng đồng, là một khuôn mặt với tài năng đa dạng có quá nhiều ảnh hưởng lên sinh hoạt của nhiều hội đoàn.

Thôi thì giờ đây, tôi xin xử dụng vài lời trong bản nhạc Thu Hát Cho Người gởi đến hương linh BS Phạm Gia Cổn, một người bác sĩ tận tâm, một y sĩ tiền tuyến thứ thiệt, một đồng đội can cường trong cuộc chiến, một giảng sư y khoa có tiếng, một nghệ nhân tình cảm, võ sư có lòng từ tâm, một chưởng môn sáng tạo, và trên hết, một người con đất Việt đầy nhiệt huyết luôn hướng về quê Mẹ:

“Mùa Thu nào đưa người về thăm bến xưa
  Hoàng Hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ
  Về đồi sim, ta nhớ người vô bờ…”
         
Anh Cổn ơi, phải chăng Anh giờ đây đang giong ruổi trên chuyến xe lửa về bến xưa, đến thăm Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị và dừng chân viếng các chiến địa và các đồi sim, nơi từng ghi dấu giày của Anh, như Anh từng mơ ước trong bài viết năm 2015?
         
Hay phải chăng Anh “Giờ đây chìm trong cơn bão lầy – Có hay chăng đôi cánh khép đọa đày – Chờ mai khi giông gió lên khơi – Niềm tin đến cho đời đại bàng vỗ cánh về?”
         
Có chăng Anh đã từng như “dáng chim trời một ngày tung cánh bay – góp phong ba như gọi cuồng phong dấy lên – Một ngày gió lớn đã qua rồi – Giờ chỉ còn yên nín ngại ngần – Rồi từng tháng năm âm thầm nhen nhén tương lai”?
                                     
Và có chăng Anh từng âm thầm tránh “Trách chi người ai lỗi ai – Trách chi người mi ướt cay… khi đã xa nhau kiếp này”. Và nhớ chăng Anh “mùi thơm khăn áo ngây ngất đi vào cổ tích tôi”?

 
Đi vào cổ tích tôi, là hình ảnh của một quân nhân dày dạn phong sương, một Thiên Thần Mũ Đỏ oai hùng, một y sĩ Nhảy Dù từng được tuyên dương trước Quân Đội với huy chương Anh Dũng Bội Tinh kèm theo Nhành Dương Liễu, là một chiến sĩ đầy khí khái chiến đấu cho tự do từ trong nước ra đến hải ngoại, là một con người với tài năng đa dạng đáng kính, đáng nể, đáng ngưỡng mộ, là một kỳ tài ưu ái của cộng đồng người Việt Hải Ngoại. Đó chính là Anh. Là Bác Sĩ Phạm Gia Cổn.

Kính thưa quý vị, trước đây trong bài viết “Xin Cho Linh Hồn Này Được An Nghỉ Ngàn Thu”, tôi diễn tả tâm tư của bác sĩ Mũ Đỏ Trần Đức Tường, người mà về sau trở thành Y sĩ Trưởng của Sư Đoàn Nhảy Dù, qua bài thơ “Tiễn Anh” của BS Tường, khi ông nhận một thương binh của tiểu đoàn mình vừa đền nợ nước. Về sau, bài thơ “Tiễn Anh” đó đã được BS. Phạm Gia Cổn phổ nhạc và trở thành một trong những bản nhạc mà BS. Cổn rất tâm đắc. Với lý do này, tôi xin lấy “Tiễn Anh” làm đề tựa cho bài điếu văn hôm nay. Nay xin mời quý vị nghe bài “Tiễn Anh”

 
Anh Cổn ơi, hôm nay đệ đến đây, nghiêng mình chào vĩnh biệt Huynh, với lòng thương mến và nuối tiếc Huynh vô cùng. Đệ xin chung góp lời cầu nguyện cho hương hồn Huynh sớm siêu sinh tịnh độ.
Cuối cùng, tôi cầu mong Phu Nhân BS. Phạm Gia Cổn giữ vững tinh thần và xin Phu Nhân bảo trọng.
 
Ngày 8, tháng 12, 2022
Bác Sĩ Vĩnh Chánh,
Y Sĩ Trưởng TĐ 1 Nhảy Dù và TĐ 15 Nhảy Dù Tân Lập

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Làm nghệ sĩ là một lời cam kết với đồng loại rằng những vết rách của kiếp sống sẽ không biến ta thành kẻ sát nhân,” Louise Bourgeois từng viết trong nhật ký thuở thiếu thời. “Những kẻ làm thơ — tôi muốn nói: mọi nghệ sĩ — rốt cuộc là những kẻ duy nhất biết sự thật về chúng ta,” James Baldwin từng viết ở tuổi ba mươi, “…không phải binh lính, càng không phải chính khách… chỉ có thi sĩ.” Và sự thật ấy, cách ta yêu, cách ta cho đi, và cách ta chịu đựng –là chính bản thể của ta.
Tờ Việt Báo Kinh Tế số 28 ngày 13 tháng 2 năm 1993 có đăng bài thơ “Lửa, Thấy Từ Stockholm” của nhà thơ Trần Dạ Từ, nhân tuần lễ nhà văn Thảo Trường thoát khỏi nhà tù lớn đến định cư ở Hoa Kỳ. Đây là bài thơ Trần Dạ Từ viết từ 1989 rời Việt Nam, khi được các bạn Văn Bút Thụy Điển mời ăn cơm chiều, Ông nhớ đến bạn còn ở trong tù khổ sai dưới chân núi Mây Tào, Hàm Tân. 33 năm đã trôi qua kể từ ngày chúng ta chào đón nhà văn Thảo Trường đến Hoa Kỳ, 15 năm kể từ ngày Thảo Trường từ bỏ thế gian, Chiều Chủ Nhật tuần này, 22 tháng Sáu, nhân dịp tái xuất bản bốn cuốn sách của Thảo Trường (Hà Nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng; Người Khách Lạ Trên Quê Hương; Ngọn Đèn; Lá Xanh), bạn bè văn hữu và gia đình cùng tề tựu tưởng nhớ Nhà Văn. Việt Báo trân trọng mời độc giả cùng đọc, cùng nhớ nhà văn lớn của chúng ta, một thời, một đời.
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Theo một ý nghĩa nào đó, Farrington đóng vai trò là một kiểu người có thể thay thế hoặc tồn tại ở bất cứ đâu, có thể là một nhân vật đặc trưng nào đó nhưng cũng có thể là một người bình thường. Bằng cách chọn chủ thể như thế, Joyce đưa Farrington vào bối cảnh đường phố Dublin và gợi ý rằng sự tàn bạo của gã không có gì là bất thường. (Lời người dịch).
Thông thường người ta thỏa thuận những tác phẩm và những tác giả đó thuộc về văn học bản xứ với phụ đề “gốc Việt.” Thỏa thuận đó đặt cơ bản trên ngôn ngữ, có tên gọi “ngôn ngữ chính thống”, còn tiếng Việt là “ngôn ngữ thiểu số.” Tất cả những ý nghĩa này được nhìn thấy và định nghĩa từ những người bản xứ của ngoại ngữ. Còn người Việt, chúng ta nhìn thấy và nghĩ như thế nào? Hai tập thơ tiếng Hán của Nguyễn Du, thuộc về văn học Trung Quốc hay Việt Nam? Những bài viết, sách in tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Latin của các học giả và các linh mục dòng tên, thuộc về văn học nào?
Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v., nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha. Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.
Giải thưởng cho thể loại Tiểu Thuyết (Fiction) về tay nhà văn Percival Everett với tác phẩm James. Tiểu thuyết James là sự tái hiện nhân vật Huckleberry Finn trong tiểu thuyết Adventures of Huckleberry Finn của văn hào Mark Twain. Nhà văn Percival Everett kể lại góc nhìn của Jim, người bạn đồng hành của Huck bị bắt làm nô lệ trong chuyến du lịch mùa Hè. Trong James, Percival Everett đã trao cho nhân vật của Jim một tiếng nói mới, minh họa cho sự phi lý của chế độ chủng tộc thượng đẳng, mang đến một góc nhìn mới về hành trình tìm kiếm gia đình và tự do.
Văn học miền Nam tồn tại mặc dù đã bị bức tử qua chiến dịch đốt sách và cả bắt bớ cầm tù đầy đọa những người cầm bút tự do sau ngày Cộng sản Bắc Việt chiếm lĩnh miền Nam. Chẳng những tồn tại mà nền văn học ấy đã hồi sinh và hiện đang trở thành niềm cảm hứng cho các thế hệ Việt kế tiếp không chỉ ở hải ngoại mà còn cả trong nước. Có lẽ chưa có một nền văn học nào trên thế giới đã có thể thực hiện được những thành quả trong một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế hệ như vậy. Bài viết này sẽ tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam trong 20 năm, từ 1954 tới 1975, một trong hai thời kỳ văn học phát triển có thể nói là rực rỡ và phong phú nhất của Việt Nam (sau nền văn học tiền chiến vào đầu thế kỷ 20). Tiếp theo là việc khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ của Việt cộng. Và kế là những nỗ lực cá nhân và tự nguyện để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại và hiện trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ Việt..
Văn học luôn được xây dựng trên tác giả, tác phẩm và độc giả, với những cơ chế tất yếu là báo, tạp chí văn học, nhà xuất bản, mạng lưới văn chương, và phê bình. Gần đây thêm vào các phương tiện thông tin xã hội. Trên hết là quyền lực xã hội nơi dòng văn học đang chảy, bao gồm chính trị, tôn giáo. Giá trị của một giai đoạn văn học được đánh giá bằng những thành phần nêu trên về sáng tạo và thẩm mỹ qua những cơ chế như tâm lý, ký hiệu, cấu trúc, xã hội, lịch sử… Việc này đòi hỏi những nghiên cứu mở rộng, đào sâu theo thời gian tương xứng.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.