Hôm nay,  

Tuổi Nhớ Răng

24/03/202300:00:00(Xem: 5284)

Picture3
Hình ghép.
 
Sau khi nhổ răng, tôi xin anh nha sĩ trẻ mấy cái răng chết, khá thê thảm, để mang về. Lần trước cũng vậy. Anh tỏ vẻ thông cảm. “Bác giữ làm kỷ niệm?” “Vâng. Chúng nó theo tôi bảy mươi mấy năm rồi. Chiến đấu giỏi lắm. Giữ xác lại để nhớ.” Đúng. Răng kề cận người hơn tình nhân. Ở với người trung thành hơn vợ. Nói cắn là cắn, nói nhai là nhai, nói nhe là nhe, nói ngậm là ngậm. Tuyệt nhiên vâng lời, không cãi cọ gì. Chỉ có già đi, lỏng chân, rồi vĩnh biệt.

Tôi dàn dựng một “công trình” trực quan, visual pop art, bằng tất cả những chiếc răng tử vong của tôi đã nhổ trong thời gian mười năm qua. 26 tử sĩ, chỉ còn 6 chiến sĩ sống sót, mỗi chiếc đóng mỗi nơi rãi rác, ba răng ở hàm trên, ba răng ở hàm dưới. Đến tuổi đời nào đó, ai cũng phải xin viện trợ răng giả. Đối với thế hệ di tản, tị nạn, thế hệ đầu tiên, răng giả thường đẹp hơn răng thật. Thành thật mà nói, răng giả chẳng những làm đẹp, còn làm giảm bớt căng thẳng, không còn lo âu về đau răng, không cần nhớ đánh răng, thanh thản huýt gió. Đi ngủ tháo ra ngâm nước như cởi cái quần ngủ bỏ giặt.

Ở Việt Nam, thời của tôi, răng được xác định rõ ràng, Răng khểnh, cười có duyên. Răng hô, răng sún được sắp hạng sau lé với lùn. (Nhất lé, nhì lùn, tam hô, tứ sún.) Người nào sún thường bị nghi ngờ nói láo kinh niên. Nói chung, văn hóa người Việt, không quan tâm hàm răng đều đặn. Màu răng trắng không được ưu ái. Tôi còn nhớ tấm bảng quảng cáo lớn về kem đánh răng Hynos ở chợ Bến Thành. Anh chà và da đen cười, thấy hai hàm trắng toát. Cảm giác hơi sợ.
 
Ngược lại, văn hóa răng của người Việt đi từ răng đen. Răng đen có một thời hấp dẫn, “Các cô hàng xén răng đen / cười như mùa thu tỏa nắng” (Bên Kia Sông Đuống, Hoàng Cầm.) Sau thời răng đen sang tây học là thời răng trắng. Tuy gọi trắng nhưng thật sự màu ngà, hoặc màu tự nhiên, có sao để vậy. Vẫn có duyên, vẫn cười tươi, cười duyên, vẫn yêu nhau thắm thiết. Chúng tôi thời đó không mấy người biết đến nha sĩ để tắm răng, kỳ cọ dơ bẩn. Cứ uống bia, uống nước là sạch. Cứ uống rượu, hút thuốc là giết vi trùng.

Ở bên này, hàm răng ấp chiến lược thì ngại ngùng khi cười trước đám đông. Phong trào niềng răng xuất hiện hầu hết trong miệng các em trẻ. Một số người lớn muốn theo kịp thời trang, đành chịu đau nhức, ăn cháo một thời gian, để răng được sánh vai đứng thẳng hàng.

Đã có vợ, lấy chồng, thường không quan trọng chuyện răng thẳng hàng, trắng tinh. Thuở mới quen nhau, nam nữ nhìn mặt, nhìn người. Dung nhan đẹp gái, đẹp trai, dễ thương là chủ yếu. Thân thể đừng quá thiếu thốn, nhan sắc vẫn là điểm nhấn khi chọn lựa. Nói như vậy là lý luận hơi nhiều. Thực tế, khi mới gặp nhau, nhìn thấy đối phương, tự nhiên lòng hồi hộp, sung sướng, thích thú, rồi khi ra về thì không nở.

Mai tôi ra đi chắc trời mưa
Tôi chắc trời mưa mau
Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội
Nhưng chậm thế nào cũng phải xa nhau…

                                        (Paris. Thơ Nguyên Sa.)
 
Khi đã là vợ chồng, biết nhau quá rồi, để dành tiền vui hơn. Thế hệ của chúng tôi thích tiền xếp thẳng hàng hơn răng thẳng.
 
Răng giả có nhiều điểm lợi, ví dụ, răng thật bị hô, bị sún, bị xiết. Khi rụng hết răng, tuy không nói ra, nhưng lòng mừng như tự nhiên được phép lạ. Một hàm răng giả tròng lên lợi, hết hô, hết sún, hết xiết, nếu có bảo hiểm trả tiền, thật tuyệt vời. Vì vậy, nha sĩ thường giàu hơn bác sĩ.

Răng giả ăn không ngon, cắn trệu trạo, vô cảm, không thật sự tiếp xúc với thực phẩm. Ai nói? Không đúng. Tôi đã có lần ngồi chung bàn với một số anh em nghệ sĩ cao tuổi hơn. Hết mọi người trong bàn đều trang bị răng giả, ngoài trừ tôi lúc đó, còn 15 cái răng thật. Uống bia thì giống nhau, vì răng và bia là họ hàng. Đến phần ăn bắp nướng. Các anh cạp rột rột, răng giả chạm cùi bắp, vang vang đều đặn, rột rột. Chỉ có tôi là e dè, gặm nhấm nhu mì, để dành lực lượng răng vào việc hữu ích hơn. Quả tình, thật không bằng giả.

Trong hai chục năm qua, nghệ thuật Dental implants, trồng răng giả, từ từ thịnh hành. Cái hàm giống như một thiết bị, răng được vặn vít vào xương. Vững như trời trồng. Nhưng nếu ai bị dị ứng, hoặc hệ thống phòng thủ trong người nhạy cảm, không chấp nhận răng ngoại quốc đến ăn nằm, sẽ phản kháng. Một số ít người phải lấy răng vít ra, mang lại hàm răng giả. Không sao. Không có gì quan trọng. Răng vốn chỉ dùng để nhai.   
 
Nhưng phức tạp ở răng giả, mang hoặc trồng, đều phụ thuộc vào xương hàm và lợi. Xương hàm và lợi thay đổi theo thời gian, theo mập ốm, theo bệnh tật, theo tuổi già. Khi xương hàm thay đổi, răng trồng không giữ được vị trí cũ, nếu nặng thì liểng xiểng, liêu xiêu. Muốn đẹp, phải làm lại. Còn lợi thay đổi, mập lên, mang hàm răng giả không vừa, giống như mặc quần áo chật. Nếu lợi teo lại, quần áo rộng rãi và hay sút, đôi khi, răng đi đường răng, lợi đi đường lợi. Dán răng. Lượm răng. Thật là nhiêu khê.
Nhưng rồi, cảm ơn sự tiến bộ của khoa học. Kỹ thuật mới ra đời: Stem Cell Dental Implants (Nha khoa cấy tế bào gốc.) Nghĩa là trồng răng một cách tự nhiên. Răng mới mọc lên từ chỗ răng rụng như thuở mới mọc răng lớn lên. Như cây trồng từ hạt mầm, từ máu huyết, mọc lên vừa vặn, răng mới trám vào chỗ hở.
Tế bào gốc nha khoa là gì?

“Cơ thể chứa nhiều loại tế bào khác nhau. Ngay từ khi sinh ra, với tư cách là một hạt bụi nhỏ, bạn không được trang bị tất cả các loại tế bào khác nhau cần thiết trong cơ thể. Tế bào gốc là thứ giúp bạn tạo ra tất cả các cơ quan và hệ thống khác nhau tạo nên con người bạn. Chúng là một tế bào không phân biệt có khả năng thay đổi thành mọi tế bào trong cơ thể bạn.

Tế bào gốc có thể được tìm thấy trong hầu hết các mô của cơ thể và giúp tạo ra và bổ sung cho cơ thể. Chúng thường được chôn sâu, ở những nơi khó tìm,  thưa thớt và ẩn giữa các tế bào có bề ngoài giống nhau.

Các nhà khoa học đã phát hiện ra, ngay cả những chiếc răng cũng chứa một kho tế bào gốc, loại tế bào này được tìm thấy ở răng sữa và cả răng trưởng thành. Những tế bào này có đầy đủ khả năng tự tái tạo.

Tế bào gốc nha khoa có thể có ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học y tế do khả năng tương thích với hệ thống miễn dịch của cơ thể. Một vấn đề với việc chèn tế bào gốc là cơ thể có thể từ chối chúng thông qua phản ứng miễn dịch. Nhưng ngoài vai trò tiềm năng trong các thủ tục y tế khác, ứng dụng rõ ràng thực sự là để thay thế răng. Các nghiên cứu đang bắt đầu chỉ ra những lộ trình hữu hình để cấy ghép răng bằng tế bào gốc nha khoa.” (Trích: Verywell Heath. Why stem cells replace dental implants. Steven Lin, DDS. 26 tháng 10, 2021.)

  “Trong một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Nha khoa, Tiến sĩ Jeremy Mao, giáo sư Y khoa Nha khoa tại Trung tâm Y tế Đại học Columbia, đã trình bày chi tiết công trình của ông trong việc chế tạo từ xương hàm, nơi các tế bào gốc của cơ thể có thể được định hướng để phát triển. Khung tế bào gốc có thể dẫn đến sự thành hình  những chiếc răng hoàn toàn mới để thay thế những chiếc răng bị mất! Khi phương pháp này trở nên phổ biến trên thị trường, nó có thể giúp “cấy ghép” nhanh hơn (chỉ chín tuần) và thời gian phục hồi ngắn hơn so với cấy ghép nha khoa thông thường.” (Trích: https://www.arizonabiltmoredentistry.com/stem-cells-regrow-teeth/)

Tuy nhiên, ngay giờ phút này, kỹ thuật Nha khoa cấy răng bằng tế bào gốc vẫn còn trong phòng thí nghiệm. Hẹn một tương lai gần. Nhanh lên kẻo muộn.

Không ai có thể ngờ, một hôm mình nhớ răng. Thế giới bao la, đời người hỗn loạn, thiếu gì thứ để nhớ. Nhưng nhớ răng, không buồn như nhớ người qua đời, không vui như nhớ lễ lạc, không ngậm ngùi như  nhớ tình nhân, chỉ lan man lãng mạn nhớ lại nụ cười trong những tấm hình cũ, lúc răng chưa tử vong. Lúc đó, ít ai thương mến răng của mình. Bây giờ mất rồi, nhớ lại, thật tội nghiệp. Đám răng trung thành chiến đấu thực phẩm với mình bảy mươi mấy năm. Không ai làm thơ, viết nhạc ca tụng răng. Nói về bạc bẽo, chuyện này thật là bạc bẽo.

Tôi để dành tất cả những răng đã qua đời như vật liệu quí báu, quan trọng để tạo hình. Tôi đã định ra một dàn dựng từ lâu. Một tác phẩm nghệ thuật đầy sáng tạo. Nhưng trước hết, khi chiếc răng cửa bị gãy:

Thường thì người ta hay rụng răng hàm, răng nanh trước. Tôi mất răng cửa. Khốn nạn vì nó trình diện đứng trước hàng đầu khi cười. Không có nó, cửa sổ mở không treo màn, thấy hết gia cảnh nghèo khó bên trong. Trong khi chờ đợi làm răng giả, khá lâu, cười nói che miệng hoài cũng chán. Và không thể nhớ hoài, thỉnh thoảng vẫn bị lộ tẩy. Vã lại, anh hùng mà che miệng nói, trông y như tiểu nhân. Có vẻ ám muội, mưu đồ. Tôi mang cái xác răng cửa ra, tự chế tạo hai cái móc, mua ở Home Depot. Bây giờ cái răng như con cua có hai càng. Mỗi càng móc vào mỗi cái răng hai bên như các bạn cũ gặp nhau, quàng vai đi ở giữa. Tha hồ cười nói, nhưng không thể ách xì. Kinh nghiệm này, tôi đã trải qua. Khi ách xì, hơi mạnh tống răng treo văng mất. May lắm mới tìm lại được.

Chuẩn bị tác phẩm đã lâu. Lúc này nên hoàn tất.

Tôi đã đứng trước gương soi và chụp nhiều tấm hình về hàm răng của mình. Giờ đây, xem xét thật kỹ lưỡng. Dùng tất cả răng chết, sắp đặt theo thứ thự, theo độ cao thấp, theo độ xiên xẹo, theo độ lòi sỉ, giống như bộ răng cũ lúc còn sống đoàn tụ bên nhau. Dùng loại keo đặc biệt dán đồ sứ, dán chúng lại với nhau, từ nay không cách nào chia ly. Nếu như, có thể dáng hết những người thân yêu đã qua đời như dán hàm răng, thì hạnh phúc biết mấy. Điều “không bao giờ chia ly” là giấc mơ lớn nhất khi làm người và giấc mơ này luôn luôn đau đớn khi thức dậy.

Bây giờ, tôi đã có mấy đoạn răng thật, móc nối vào những chiếc răng sống sót, soi gương thấy lại “mình” và răng mình như xưa. Cảm giác này thật sung sướng, khoan khoái. Đứng đó, trước nhân gian, tự cười rất lâu mà không mỏi miệng.

Tuy có hàm răng giả chính hiệu từ nha sĩ, nhưng mỗi khi muốn làm người chân thật, tôi lại mang răng tử sĩ của mình. Nhất là những khi ngồi uống rượu một mình, hoặc bưng ly cà phê nóng trước hoàng hôn, nhai nhai hàm răng không, nhai nhai hàm răng cũ, cảm giác thân quen, ấm áp, phất phơ một chút bùi ngùi. Không ai có thể ngờ, một lúc nào đó, con người lại bước vào tuổi nhớ răng.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhà thơ Đinh Hùng sinh ngày 3/7/1920, làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông. Ông là con út trong gia đình gồm sáu anh chị em: anh cả là Đinh Lân, các chị là Loan, Yến, Hồng, Oanh. Chị Đinh Thục Oanh lập gia đình với nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1915-1976). Đinh Hùng theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, rồi bậc trung học tại trường trường Bưởi, Hà Nội. Và sau khi đậu bằng Cao Đẳng Tiểu Học (Diplôme d’Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) thường gọi là bằng Thành Chung. Ông được học bổng tiếp tục đèn sách để thi Tú Tài bản xứ thì “Thần Ái tình đã hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn” (theo lời kể của ông anh rể Vũ Hoàng Chương), khiến ông bỏ ngang để đi viết văn, làm thơ. Năm 1943, ông xuất bản tập văn xuôi Đám Ma Tôi nhưng sau đó nổi tiếng với bài thơ Kỳ Nữ. Năm 1944, nhà thơ Vũ Hoàng Chương cưới bà Thục Oanh đưa về Nam Định sinh sống, ông ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài, và năm này, ông cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh về Thái Bình dạy học.
Cha anh, ông Thụ, là một người trung bình về mọi phương diện. Ưa thích quyền lực nhưng không thỏa mãn. Quyền lực mà ông có nhiều nhất là đối với vợ con. Đứa con trai duy nhất, “Em à, số vợ chồng mình thật xui. Có một đứa con mà nó lại sống ở trên mây.” _”Còn hơn nó chết à?” Thú vui lựa chọn của ông Thụ là tập bắn súng. Súng trường, súng lục, súng nào ông bắn cũng giỏi. Đã đoạt một số giải thưởng bắn thi. Và dĩ nhiên, ông muốn truyền tài năng này cho con trai. Năm 17 tuổi anh đã đoạt giải quán quân về tầm bắn xa 200 mét. Khi anh đeo dây huy chương trên cổ, tay cầm cái cúp giải thưởng, cha anh đã ôm anh thật chặt, Hơi nóng ấm áp chuyền qua làn áo vải. Ông đã tìm thấy ông và anh đã tìm thấy cha. Tính tình cha con anh có nhiều chuyện khác nhau, từ sở thích đến suy nghĩ. Khi còn nhỏ, anh không thích ăn thịt. Ông ăn thịt bò bíp-tết hai ngày mỗi tuần. Mỗi lần ăn, ông cắt thịt ra từng mảnh nhỏ, bắt anh hả miệng và đút vào. _”Nhai đi.” Cùng một cách ra lệnh, _”Nghĩ đi”, _”Làm đi”, _”Thở đi” _Số
Mẹ tôi, sinh nhật nào cũng bốn cây bạch lạp thắp sáng, năm nào bà cũng bốn mươi tuổi, không già hơn. Sinh nhật năm nay cũng vậy. Đàn cháu hát hăm hở Happy Birthday mừng bà nội. Mừng điều gì, tôi không biết. Sống lâu? Bà gần như không bao giờ chết. Xinh đẹp? Bà có bao giờ thay đổi đâu. Khỏe mạnh? Bà sẽ không bao giờ bệnh. Có lẽ con gái tôi biết được điều gì tôi không biết. “Chúc bà nội năm nay có tình yêu.” Cả đám con cháu cười vang kèm theo tiếng vỗ tay. Mẹ cười âu yếm. Trong căn phòng khách này, tôi là người già nhất và là người lạc hậu nhất.
LTS: Nhà văn Dương Nghiễm Mậu qua đời lúc 21 giờ 35 phút tối, giờ VN, ngày 2 tháng 8 năm 2016 (nhằm ngày 30 tháng 6 năm Bính Thân) tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi. Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại quê nội làng Mậu Hòa (quê ngoại làng Dương Liễu), huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Lập gia đình năm 1971, với Hồ Thị Ngọc Trang, giảng viên Anh ngữ. Sau 30/4/1975 bị bắt giam. 1977 đươc tạm tha. Từ 1977, học nghề sơn mài và sống bằng nghề này tại Sài Gòn. Từ 12 đến 18 tuổi sống ở Hà Nội. Học tiểu học ở trường Hàng Than, trung học, Chu Văn An, viết đoản văn, tùy bút cho báo trường và các báo có phụ trang văn nghệ học sinh. 1954 di cư vào Nam với gia đình, năm đầu ở Huế, năm sau ra Nha Trang, hè 1957 vào sống hẳn Sài Gòn. Từ 1957 trở đi Ông viết nhiều: tạp văn, tùy bút, đoản văn, truyện ngắn, truyện dài. Nhân ngày giỗ thứ tám, Việt Báo xin trích đăng lại nhà văn Dương Nghiễm Mậu từ tập “Tự Truyện Nguyễn Du”.
Tôi không khỏi bâng khuâng được tin Chị Võ Phiến, tên thật là Viễn Phố, phu nhân nhà văn Võ Phiến (1925-2015), đã qua đời ngày 24 tháng 7, 2024, hưởng thọ 94 tuổi. Trong số các bạn đời của các bạn văn của tôi, chị là người phối ngẫu tôi có dịp gần gũi hơn cả, từ khi anh còn sống và cả sau khi anh đã qua đời...
Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Kafka đã viết hàng trăm bức thư, từ những bức thư tình cảm động và đầy đau thương, cho đến những lá thư gửi cho bạn bè để chia sẻ về những tác động diệu kỳ của chữ nghĩa đối với tâm hồn. Tuy nhiên, không có bức thư nào có thể so sánh với bức thư dài 47 trang mà ông viết cho cha mình, Hermann Kafka, vào tháng 11/1919. Bức thư này gần như là tự truyện duy nhất của Franz Kafka, được dịch bởi Ernst Kaiser và Eithne Wilkins và được xuất bản vào năm 1966 với tựa đề “Letter to His Father” (Thư Gửi Cha).
Nó đứng như tượng biết cử động suốt ngày đêm. Tôi chưa biết phải làm gì với nó, nhưng tò mò muốn theo dõi. Mang thức ăn và nước uống mới đến mỗi buổi chiều. Tuy bốn chân bị dính cứng trong keo, nhưng mỗi khi tôi đến gần, ngày hôm trước, mắt nó tỏ vẻ giận dữ, cử chỉ hành hung như con vật trong màn múa rối; ngày hôm sau mắt tỏ vẻ nghĩ ngợi, cử động phòng thủ nhiều hơn hăm dọa; ngày thứ ba mắt nhìn thấy buồn bã và cầu khẩn, thoi thóp. Nó chết ngày thứ tư. Thân hình phục xuống trên bốn chân. Đầu gục về phía trước dính vào keo. Mắt nhắm hơn một nửa, hí nhìn không còn cảm giác.
Ngưởì Việt di tản tỵ nạn khi qua đây mới học được tiếng Anh. Cho dù, cuối cùng tốt nghiệp được đại học nhưng có lẽ cũng không thể nào biết tới hết 118 chữ đồng nghĩa với Death trong tự điển Thesaurus được. Ngay người Mỹ bản xứ cũng thế, nói chi đến các chữ khác.
Cuốn sách này, như chính tựa đề, Đường về thủy phủ, đã báo hiệu điều gì đó huyễn hoặc. Vì vậy, bạn đọc nếu chờ đợi một câu chuyện tiểu thuyết thông thường có đầu đuôi, có lô-gic, có sự tình chặt chẽ hợp lý, xin gấp sách lại, hãy tìm đọc một cuốn khác. Là một tác phẩm siêu hư cấu không có chủ ý đáp ứng những quy củ tiểu thuyết thông thường, Đường Về Thủy Phủ của Trịnh Y Thư là một tập hợp của ba câu chuyện, ba toa riêng lẻ của một chuyến tàu, vận hành trên cùng một đường rầy thiên lý, theo chiều dài của một giai đoạn lịch sử chiến tranh tanh nồng, nơi hành khách là những nhân vật bị ném lên tàu, vất vưởng chuyển động trên một trục cố định, dốc toàn bộ sức lực và trí tưởng tượng gắng tìm cho mình một lối thoát, hay theo tác giả, tìm một lối về.
Con người của toán học và kỹ thuật nhưng tâm hồn lại dành cho văn chương. Chính văn chương đã nâng anh dậy thành một nhà văn xứng với cái tên Trần Quí Sách tiền định. Từ năm 1964, anh đã có truyện và thơ trên Bách Khoa, Văn, Văn Học, Đời, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành và Ý Thức. Năm 2004, anh về hưu và dành tất cả thời gian cho văn học Việt Nam với Thư Ấn Quán và Thư Quán Bản Thảo. Anh đã biến căn nhà ở Plainfield, New Jersey, thành nhà in gồm toàn máy móc cũ mua rẻ trên e-Bay để “chế tạo” những cuốn sách từ A đến Z.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.