Hôm nay,  

Kỷ Vật

06/10/202300:00:00(Xem: 4242)

IMG_3625

 

Kỷ vật là vật kỷ niệm. Trong “kỷ niệm”  ky niem ,   chữ kỷ, nghĩa danh từ là đầu mối sợi tơ, sợi chỉ; nghĩa động từ là gỡ sợi dây ra. Niệm, nghĩa là mong nhớ khi nghĩ đến.
  

Kỷ vật, lần theo sợi thời gian tìm đến nhớ thương. 

Kỷ vật, có khi nhẹ nhàng, nhỏ nhặt, mà thắm thiết ngậm ngùi như:

Trong đáy túi chứa đầy danh thiếp cũ

Những tên người tên tỉnh đã xa xưa

Những dòng vội ghi hẹn hò gặp gỡ

Những đường quen không trở lại bao giờ                                        

                          (Kho Tàng, thơ Cao tần.)

Kỷ vật, cũng có khi đau đớn, thảm sầu suốt đời người như:

Kỷ vật đây viên đạn mầu đồng

Cho em làm kỷ niệm sang sông

Đời con gái một lần dang dở …

                  (Kỷ Vật Cho Em, thơ Linh Phượng.)

 

Kỷ vật, không trừu tượng, là một thứ gì bằng vật chất ghi lại, cưu mang, hoặc ẩn tượng một kỷ niệm nào đó. Loại kỷ niệm có động lực gợi lại những vui buồn, thương tiếc, nhớ nhung; có khả năng làm nhếch một nụ cười hoặc làm mờ khóe mắt. Có những kỷ vật dù đã mất nhưng không quên.

Mỗi đời người càng sống lâu, càng có nhiều kỷ vật. Điều này cất vào kho tàng quá khứ, có hay không, nhiều hạnh phúc đã qua mà mùi hương không bao giờ xao lãng. 

Tâm đơn giản hoặc phức tạp là do có nhiều kỷ vật quí giá hay không. Người ta tìm kiếm kỷ vật bằng cách lục lọi lại những đồ vật cũ đã cất giữ đâu đó, hoặc vô tình tìm thấy ở một nơi nào bất ngờ, hoặc quay lui vào trí tưởng.

Có những kỷ vật làm trái tim bật cười. Có những kỷ vật làm hồn tê liệt. Có những kỷ vật làm dĩ vãng mê mang. Có những kỷ vật làm hơi thở nấc lên đứt đoạn.

Kỷ vật không quan trọng lắm đối với tuổi trẻ, nhưng là những gì ám ảnh, nhiều khi sâu đậm, đối với tuổi già.

Mỗi kỷ vật có mỗi không gian, mỗi vị trí, mà sức nặng biến hóa theo thời gian. Có kỷ vật càng ở lâu càng nhẹ. Có kỷ vật nặng thêm theo tuổi đời.



Mỗi kỷ vật là một thứ gì đang chết chợt hồi sinh. Có hơi thở phập phồng trong hồi ức. Dù hiện diện hay thất lạc, sẽ tìm về gặp lại cố nhân.

 

Tất cả người Việt lưu vong, lưu xứ, đều mất rất nhiều kỷ vật của một đời. Không làm sao nhớ hết những gì đã mất. Lúc tuổi già kỷ vật như cánh chim, bất chợt bay ngang hiện tại, chạm vào đám mây trời, làm rơi những cơn mưa.

Thế hệ tiền phong lưu vong nay đã già, hầu hết đã trở lại quê nhà theo nắng phương đông. Những kẻ còn lại lạnh lùng quanh chung cư dưỡng lão. Kỷ vật quạnh hiu trong trí tưởng mập mờ. Thỉnh thoảng vụt ra, buồn vui hay đau đớn? Rồi sao? Dù chậm hay nhanh trang sử sẽ lật qua.

Kỷ vật để lại hóa thân thành phế thải. Lưu lạc bãi bờ, vào tay người Mễ, người da đen. Cũng tốt thôi, kỷ vật thành tặng vật. Ai biết bên trong còn đỏ máu nỗi niềm.

Khi kỷ vật không còn ai thương nhớ, cánh chim năm xưa không còn chạm trời mây. Tiếng hót cũ hoàn thành niềm đau im lặng.

 

Hôm qua, tôi tìm thấy một kỷ vật đã cư trú trong đời hơn 40 năm. Họ xuất hiện từ một tiệm bán đồ vặt bên đường, gặp gỡ chúng tôi trong thời lang thang cùng hoài bão.

Ngày tháng ấy, chúng tôi còn trẻ, nhưng đã thấy được tuổi già không lẻ loi. Mang họ về làm chứng theo thời gian. Tối tăm và thương khó. Suy nghĩ và phiền hà. Ý chí và vất vả. Hy vọng và hy sinh. Mồ hôi và mất ngủ. Rồi họ theo người thấy được bình minh.

Chúng tôi du hành dọn đi xa tỉnh. Cất họ vào thùng. 30 năm sau mới mở ra. Họ không thay đổi mà chúng tôi đã già.

 

Em biết không, khi anh tìm thấy họ. Im lìm chịu đựng qua ngày. Chịu đựng thăng trầm. Chịu nhiều khắc khoải. Nằm trong bóng đen. Những con mối hoài công gặm nhấm theo kiểu đời vô tâm muốn di họa cho người. Đàn gián bò qua đẻ lại mùi hôi theo thói quen người đổ vạ cho nhau. Bầy nhện quấn tơ quanh họ đã phục tùng, không khác gì trời đày cho số phận. Họ im lìm chịu đựng qua ngày.

Sức nặng sức khó đè lên, mặt người phụ nữ nứt nẻ. Lão ông úp mặt chỉ còn nửa vành môi. Không phải chỉ đời người mới chịu nhiều khốn khổ.

Anh đã thức suốt đêm, chà mài sơn dán, để họ bên nhau trở lại bình thường. Quên đi những tháng ngày mệt mỏi. Bắt đầu những niềm vui sót lại. Để họ làm kỷ vật mãi mãi cho chúng ta. Và để chúng ta làm kỷ vật cho họ lúc giã từ.

 

Ngu Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vào khoảng 2 tuần lễ trước đây, ngày 30-08 dương lịch, nhằm 14 hay 15 âm lịch; ngày Vu Lan tháng 7 ta, ngày báo ân phụ mẫu, cũng là mùa xá tội vong nhân, đồng thời mùa an cư cát hạ vừa hoàn mãn, chúng tôi được đọc bài chúc thư khánh tuế của hoà thượng Thích Tuệ Sỹ đăng trên Việt Báo...
Đang ở Thụy Điển, đang buông để tuổi già thanh thản, bình yên như cảnh mặt trời lặn trên biển chiều. Con gái Hòa Bình và thân hữu báo tin: Đến ngày 5 tháng 9, Việt Báo tròn 30 tuổi. Ngày 5 tháng 9, năm 1992 khai sinh của tờ báo. Chúng tôi bàng hoàng nhớ. Toa tầu ký ức, những toa tầu xình xịch chở nặng đi cùng với thời gian. Nặng lắm. Nặng tình nghĩa. Xin đừng hỏi một người “Đã mất ngày tháng” như tôi, phải nhớ rõ chi tiết, tháng nào, ngày nào. Chỉ nhớ có trước, có sau.
Chuyện này xảy ra với một nhà thơ, bạn tôi. Tôi chỉ ghi lại chuyện anh kể. Không thêm. Không bớt. Anh là nhà thơ không tăm tiếng. Tên anh không có trong danh bạ các nhà thơ hiện đại. Nhưng trong tôi anh để lại một dấu vết không phai mờ. Nó được tạc vào ký ức. Rõ nét. Như tạc trên đá.
Hadi Matar, người đàn ông bị buộc tội mưu sát tiểu thuyết gia nổi tiếng Salman Rushdie, thừa nhận rằng anh ta chỉ “đọc khoảng hai trang” trong cuốn “Những Vần Thơ Quỷ”, cuốn tiểu thuyết năm 1988 của Rushdie đã khiến những người Hồi giáo theo chủ nghĩa chính thống trên khắp thế giới tức giận. Cựu lãnh đạo tối cao của Iran, Ayatalloh Ruhollah Khomeini, người đã ban lời kêu gọi tất cả người Hồi giáo hạ sát Rushdie vào năm 1989, đã hoàn toàn không đọc cuốn sách này.
Cho đến năm 1922, Pasternak bị chấn động khi đọc tập thơ Versts của Tsvetaeva (khi đó đã rời khỏi Moscow và sống lưu vong cùng chồng là Sergei Efron), và đã gửi cho Tsvetaeva một bức thư bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình. Từ đó bắt đầu nảy nở mối tình văn chương mãnh liệt qua thư từ giữa hai người. Cả hai đều trạc tuổi nhau (Pasternak khi ấy 32, Tsvetaeva 30) đều sinh trong một gia đình nhà giáo và đều có mẹ là nghệ sĩ piano, đều yêu tiếng Đức và văn học và âm nhạc Đức.
Trong một tiểu luận trên The New York Times Book Review năm 1985, Milan Kundera kể rằng ngay sau Mùa Xuân Praha ông bị treo bút. Một đạo diễn muốn giúp ông mưu sinh bằng cách đứng tên để ông chuyển thể tiểu thuyết Chàng ngốc của Dostoyevsky thành kịch bản sân khấu. Song khi đọc lại tác phẩm ấy, ông từ chối, dù chết đói cũng không thể bước vào "cái vũ trụ đầy những điệu bộ quá khích, những vực thẳm u ám và sự mùi mẫn hung bạo" của Dos...
Sự việc trên khiến tôi nhớ lại cách đây dễ thường gần 30 năm nhà văn Salman Rushdie viết cuốn Những Vần Thơ Quỷ và Ayatollah Khomeini của xứ Iran đã làm náo động cả thế giới – nhất là nước Anh bởi ông nhà văn này mang quốc tịch Anh – khi hạ chiếu chỉ fatwa công khai cho người đi tìm ông xử tử, bởi vì, theo họ, cuốn tiểu thuyết chứa đựng những tư tưởng báng bổ đạo Hồi và Thánh Muhammad.Để chứng tỏ đấy không phải lời đe dọa suông, họ cho người đánh bom khách sạn nơi ông nhà văn cư ngụ, ngay trung tâm đô thành London. Khá may, chỉ có một người thiệt mạng trong vụ đánh bom, còn ông nhà văn thì chẳng hề hấn gì. Tình hình căng thẳng đến nỗi Anh quốc và Iran cắt đứt quan hệ ngoại giao và Salman Rushdie đã phải lẩn tránh vào bóng tối.Không, đừng hiểu lầm người Hồi giáo, đấy chỉ là quan điểm cuồng tín và hành động cực đoan của một thiểu số người đạo Hồi, những người diễn giải cuốn thánh kinh Qur’an dưới lăng kính thiển cận, cực đoan và sai lầm. Đa phần người ta đều nghĩ như thế.
Lời giới thiệu: Dịch giả Trần C. Trí tốt nghiệp Tiến sĩ đại học UCLA, trong ngành Ngôn ngữ học chuyên về các thứ tiếng gốc La Tinh. Ông hiện là giáo sư khoa ngôn ngữ học, chú trọng vào tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, và tiếng Việt, đã xuất bản nhiều sách giáo khoa, từ điển, biên khảo về các ngôn ngữ này, cùng tham gia tích cực vào các dự án về chương trình Việt ngữ hải ngoại, cũng như những sinh hoạt liên hệ đến văn hoá và giáo dục tại cộng đồng miền Nam California. Ông cũng đã cộng tác với Làng Văn, Canada (từ 1987 đến 1997), và với Da màu trong những năm gần đây, qua nhiều tác phẩm độc đáo, sâu sắc, và công phu, ở nhiều lãnh vực như truyện ngắn, kịch, biên khảo, nhận định, và dịch thuật. Tuyển tập Trong Vườn Mắt Em là tác phẩm dịch thuật đầu tay của ông, với một số truyện dịch đặc sắc đã xuất hiện lần đầu trên Da Màu. Bài phỏng vấn dưới đây được thực hiện qua email từ tháng 2, sau đó được bổ sung và hoàn tất vào đầu tháng 8 năm 2022.
Là một nhà thơ, một nhà văn, và là một nhà báo. Hẳn là quá nhiều cho một đời người. Và rồi trở thành chiến binh, sau khi quân Nga tiến vào chiếm bán đảo Crimea và tấn công miền Đông Ukraine năm 2014: nhà thơ Borys Humenyuk đã tình nguyện ra trận chống quân Nga. Một số bài thơ của ông được dịch sang tiếng Anh trong tuyển tập Poems From The War, do hai dịch giả Oksana Maksymchuk và Max Rosochinsky thực hiện. Borys Humenyuk ra đời năm 1965 tại ngôi làng Ostriv, thị trấn Ternopil, miền tây Ukraine. Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà báo. Humenyuk đã tham gia tích cực vào những cuộc biểu tình cuối năm 2013 để dẫn tới Cách mạng Nhân phẩm (Revolution of Dignity) của Ukraine trong tháng 2/2014. Những câu chuyện về chiến tranh được kể trong thơ Borys Humenyuk là có thật, không hư cấu.
một bức tranh thiếu nữ của họa sĩ Đinh Cường, 2 tấm ảnh ghi lại hai cuộc gặp gỡ của họa sĩ Đinh Cường với bằng hữu vào năm 2012 vq2 2015, và 1 bức ảnh họa sĩ Trương Vũ đang vẽ tranh bên dòng Potomac (2016)


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.