Hôm nay,  

Lắm Chuyện

12/07/202414:59:00(Xem: 9526)
blank 

Lắm Chuyện
 
Nguyễn Ngọc Phúc
  

Bạn thân mến,

Thật là rắc rối, chữ nghĩa Việt Nam có nhiều ý nghĩa và phong phú ẩn hiện của bởi sự lãng mạn và bóng gió của ngôn ngữ Việt Nam. 
  

Người miền Nam hay nói :
"nói dzậy mà hổng phải dzậy nhưng còn hơn dzậy."
  

Nó thể hiện cái văn hóa về đời sống và con người Việt Nam. Hãy nhìn, nghe và đọc văn thơ thi ca Việt Nam thì mới thấy ra cái "hổng phải dzậy " của tiếng Việt như thế nào.

Nếu người Việt có rất nhiều ý nghĩ và từ ngữ lãng mạn bóng gió thì có lẽ không thể nào dịch ra được bằng những ngoại ngữ khác.

Cho dù có dịch được, không hiểu nó có mang đủ ý nghĩa bóng bẩy đó không và nhất là người ngoại quốc có thể tưởng tượng cũng như hiểu được hết ý nghĩa của từ ngữ đó chăng?

Điểm khác biệt là đọc ngôn ngữ Việt Nam, tất cả người Việt có thẻ hiểu được, tưởng tượng ra và biết được tác giả muốn nói về cái gì nhưng với bản dịch ra ngoại ngữ, ai dám chắc tất cả người ngoại quốc đều hiểu như nhau.
  

Hãy nghe nhạc tình ca của Âu Mỹ với lời ca: "I want you, I need you, I love OH! my Baby...." đầy rẫy trong nhạc của Beatles cũng như các bài hát mới của người Mỹ mà mỗi khi nghe được, các choai choai Mỹ dẫy nẩy lên để la hét và thích thú.

Nếu dịch ra tiếng Việt: "Anh muốn em, Anh cần em, Anh yêu em OH!, em ơi" thì đến một trăm năm nữa, chưa chắc, một chàng "anh trai Việt?" nào đó sẽ có được một em chịu cho mình ôm eo ếch.
  

Nhưng nếu mà ca lên:
thì chắc chắn, ngoài cái eo ếch được ôm, "anh Trai" có thể được tặng thêm bonus: một nụ hôn chết giấc.

Đó là nói về mặt tích cực hay đẹp đẽ của ngôn ngữ Việt Nam.
 

Còn về mặt tiêu cực hay không đẹp chứ không dám nói là xấu xa của ngôn ngữ Việt Nam thì hãy nghĩ tới chuyện nói bóng gió hoặc cay cú khi thiên hạ chửi nhau, lôi ba đời sáu kiếp hay tám hướng mười phương, kêu réo tam đại tứ tông người chết tới người sống để chửi nhau hay bắt bẻ về chữ nghĩa gọi nhau hay phân định vai vế trong gia dình hoặc xác định ngôi thứ ngoài xã hội.
 

Thế mới hiểu con người và văn hóa Việt Nam quả thật:

* vừa dễ hiểu nhưng cũng rất khó hiểu
- vửa đơn giản nhưng cũng thật rắc rối
* vừa hiền lành nhưng cũng không kém ác độc,
- vừa dễ thương nhưng cũng mau ghét,
- vừa dễ hòa đồng nhưng cũng thích chơi nổi,
- vừa thông minh nhưng cũng nhiều u mê,
- vừa hiếu khách nhưng cũng muốn tự tôn
- hay cãi lý mặc kệ sự hợp lý hay vô lý,
- thích học hỏi tìm tòi nhưng không dám mạo hiểm sáng tạo.
- vv và vv.
 

Những cái " Vừa " rồi " Nhưng" nêu trên không biết là có chủ quan hay là khách quan nhưng chắc chắn, ở những quốc gia khác trên thế giới cũng đều có hai thứ " Vừa" và "Nhưng" tương tự này.

Việt Nam và các nước khác chỉ khác nhau ở chỗ là không biết giữa hai cái "Vừa" và "Nhưng" này, cái nào nhiều hơn cái nào?. Chỉ biết rằng nếu có nhiều "Vừa" mà ít "Nhưng" thì rất là tốt, cho điểm A còn ngược lại, nhiều "Nhưng" và ít "Vừa" thì sẽ là tệ, cho điểm D.

Các bạn thử cho điểm A hay D về những nhận xét nêu trên xem người Việt Nam mình như thế nào?
 

Xin chú ý:
- Xin nhận xét về người dân Việt Nam sau 1975 ở Việt Nam chứ không phải người của chế độ bởi người dân Việt chính là một thực thể va chạm với thế giới và với người Việt Nam cũ trước 1975 chứ người của chế độ hiện nay thì không có gì để nói.

Bố mẹ, ông bà Mỹ gọi con cháu mình là " You" và con cháu gọi bố mẹ ông bà mình cũng là "You" bất kể nội ngoại nhưng đối với ông bà Việt Nam và con cháu thì chữ nghĩa và ngôi thứ gọi phải đâu ra đó và rõ ràng.

Một chữ "You" của Mỹ xài cho mọi người trong gia đình nhưng trong gia đình Việt Nam phải xài tới hơn chục chữ khác nhau để biết mình là ai và You là ai:
- Con, cháu nội, cháu ngoại, chú, bác, cô, dì, dượng, anh, chị, em, cháu chắt, ông bà ngoại, ông bà nội, ông bà cố ngoại, cố nội...
 

Như vậy, chắc chắn, người Việt rất tôn trọng con người và gia đình trong đời sống. Nhờ đó, đỡ mất thời gian phải thành thật khai báo và tìm hiểu, nhờ vậy, sẽ nhanh chóng tìm được việc xử sự sao cho đúng cách.

Tuy nhiên, đối với người Mỹ thì việc đó hơi rắc rối vì hình như có vẻ xoi mói vào đời tư của con người chút ít. Ngay với cha mẹ của người Mỹ, thường cũng hay gọi là "You" tuốt.
 

Ngày mới sang Mỹ, tui không thể gọi cô giáo ESL bằng tên cộc lốc như Cathy, Sue...mà muốn gọi là Mrs, Cathy hay Ms. Sue hay Mme Jane. Ngay với người Mỹ già cũng vậy. Tui đã phải giải thích cho cô giáo biết chuyện này nhưng chỉ nhận được một nụ cười dễ thương và xuề xòa của các cô mà thôi, không yes hay no gì cả. Riết rồi theo thời gian, mình phải sống hòa đồng vào cái văn hóa phong tục của xứ sở mới, gọi tên trống trơn cũng không bị ai bắt bẻ.
 

Tuy nhiên, Mỹ và Việt Nam đều gặp nhau ở 1 tư tưởng lớn mà không cần kiểu cọ và hay phân định ngôi thứ gì là lúc khi tức giận hay chửi nhau, Tấy hay Ta cũng rứa:
- Mỹ sẽ vẫn dùng "You" and "Me" nhưng
- Việt sẽ dùng: "Mày" và "Tao".

Tới lúc này, chả cần gì tới "Vừa" hay "Nhưng" nhưng Việt Nam sẽ được điểm F. Không tin, cứ xem trên Youtube là thấy. Vợ Chồng cũng kêu nhau mày tao là thường.
  

Tương tự như vậy, một chữ Chết trong tiếng Anh và tiếng Việt, thử xem, có bao nhiêu chữ đồng nghĩa với nhau?

Tiếng Anh: 118 chữ
Need synonyms for death? Here's a list of similar words from our thesaurus that you can use instead.

Noun
The cessation of life and all associated processes : 118 words


demise end expiration passing dying expiry curtains decease quietus bereavement departure dissolution doom exit fatality passage release sleep fate grave loss oblivion parting afterlife casualty cessation darkness ending fall finis mortality necrosis overthrow tomb loss of life passing away passing on departure from life eternal rest final exit kicking the bucket passing over great divide extinction destruction ruin termination downfall ruination finish decline undoing annihilation disintegration disaster taps croaking snuffing catastrophe defunction silence lights out dying out the end extermination retribution sentence kiss of death closing going exhalation elapsing terminus crossing the great divide deathblow clincher Waterloo death in the family grim reaper final blow bitter end end of the line end of life buying the farm last roundup number's up coup de grace killing carnage lethality bloodshed deadliness cataclysm tragedy calamity trouble terrible fate grim fate decay degradation collapse rack and ruin debasement degeneration retrogression perishing fragmenting disappearance dégringolade breaking up fizzling out passing into oblivion withering away falling off decline and fall coming to an end petering out ceasing to exist
  

TIẾNG VIỆT: 70 chữ

1- (Tử Vong) cũng chết
2- (Từ trần) cũng chết
3- (Qua Đời) cũng chết
4- (Mất) cũng chết
5- (Rồi đời) cũng chết
6-(Tiêu đời) cũng chết
7-(Đi đứt) cũng chết
8-(Đứt bóng) cũng chết
9-(Hi sinh) cũng chết
10-(Đã Khuất) cũng chết
11-(Nhắm Mắt) cũng chết
12-(Xuôi tay) cũng chết
13-(Đứng tròng) cũng chết
14-(Khuất Núi) cũng chết
15-(Khuất bóng) cũng chết
16-(Tắt thở) cũng chết
17-(Đi rồi) cũng chết
18-(Toi rồi) cũng chết
19-(Đi bán muối) cũng chết
20-(Ngủm củ tỏi) cũng chết
21-(Đắp Chiếu) cũng chết
22-(Chầu trời) cũng chết
23-(Thăng thiên) cũng chết
24-(Theo Ông Bà) cũng chết
25-(Về tổ tiên) cũng chết
26-(Gặp Diêm Vương) cũng chết
27-(Băng hà) cũng chết
28-(Vĩnh biệt) cũng chết
29-(Lìa trần) cũng chết
30-(Chán sống) cũng chết
31-(Buông tay) cũng chết
32-(Lìa đời) cũng chết
33-(Đã mất) cũng chết
34-(Về cõi tây phương) cũng chết
35-(Hóa kiếp lai sinh) cũng chết
36-(Ra đi ngàn thu) cũng chết
37-(Trở về cát bụi) cũng chết
38-(Từ giã cõi đời) cũng chết
39-(Đi lên niết bàn) cũng chết
40-(Chia tay cõi trần) cũng chết
41-(Nghẻo - Queo) cũng chết
42-(Ngắm gà khỏa thân) cũng chết
43-(Ăn chuối cả nải) cũng chết
44-(Xong kiếp phàm trần) cũng chết
(45-Xong một kiếp người) cũng chết
46-(Xong một đời, ngủm củ tỏi ) cũng chết
47-(Lên bàn thờ ngồi) cũng chết
48-(Lên Thiên đàng) cũng chết !
49-(Ngoẻo cù đum) cũng chết
50-(Ngủm cù đeo) cũng chết
51-(Ngoẻo củ từ) cũng chết
52-(Viên tịch) cũng chết
53-(Ra đi) cũng chết

Mới thêm vào từ bạn đọc:
54- Vãng sanh tịnh độ
55- Gặp ông bà
56- Vĩnh biệt
57- Đi ta bà
58- Ngáp rồi
59- Tạ thế
60-Quy tiên
61- Vĩnh viễn chia tay
62- Xuống suối vàng
63-Trở về với cát bụi
64- Đi xa
65-Chúa gọi về
66-Hai năm mươi
67- Ngủ với giun dế
68- Tiêu rồi
69- Đi Đoong
70- Đứng tròng
 

Lúc đầu, ai cũng nghĩ là chữ Chết trong tiếng Việt nhiều hơn trong tiếng Anh nhưng cuối cùng thì tra tin tức trên mạng, ở tiếng Anh, chữ Chết nhiều hơn trong tiếng Việt theo tỷ lệ: 118/70. (70 tiếng Việt phỏng chừng)
 

Vậy thì để kết luận, chúng ta nghĩ gì?

Ngưởì Việt di tản tỵ nạn khi qua đây mới học được tiếng Anh. Cho dù, cuối cùng tốt nghiệp được đại học nhưng có lẽ cũng không thể nào biết tới hết 118 chữ đồng nghĩa với Death trong tự điển Thesaurus được. Ngay người Mỹ bản xứ cũng thế, nói chi đến các chữ khác.
 

- Theo the Oxford English Dictionary dầy 21,730 trang gồm 20 bộ, cũ nhất là bộ số 1 xuất bản năm 1888, mới nhất là bộ thứ 3, xuất bản năm 1997:
*về số lượng của từ ngữ tiếng Anh, có khoảng 600,000 chữ ghi trong đó,
*Những người ngoại quốc học Anh Ngữ thì ước đoán chỉ cần dùng để giao thiệp là khoảng 171,146 chữ mà thôi.
 
- Theo tự điển tiếng Việt dầy 1,208 trang, xuất bản ở VN năm 1988 của viện Ngôn Ngữ học:
*Về số lượng của từ ngữ tiếng Việt, có khoảng 36,000 chữ.

So sánh tổng quát thì:
- tự điển tiếng Anh/ tiếng Việt: - về số lượng từ ngữ, tỷ lệ là: 600,000/36,000= 16.66%
hay tỷ lệ ngược lại ; Việt/Anh sẽ là: 36,000/600,000 x% =6%.
 

Như vậy, tiếng Anh, chắc chắn là phong phú và tích lũy rất nhiều so với tiếng Việt bởi lịch sử lâu dài của nó và được update theo lịch sử thế giới cùng tiến hóa của nhân loại trên mọi phương diện, nhất là khoa học.
Không thể lấy thí dụ về chữ YOU và chữ bố mẹ, ông bà, anh chị em, cô bác........để kết luận là tiếng Việt phong phú hơn tiếng Anh.
 

Tuy nhiên, về thi vị hóa hay lãng mạn hóa văn chương thí ca, dù số lượng từ ngữ ít nhưng tiếng Việt có lẽ lấn át hơn tiếng Anh vì đời sống của con người Việt Nam trong lịch sử thường nghèo khổ và thấp kém, cho nên, lấy thi vị hóa cuộc đời trong thi ca văn học âm nhạc để quên bớt nỗi buồn của thực tại.

Vì vậy, âm hưởng của nhạc Việt Nam thường có nét buồn hơn vui là cũng vì từ đó.
 

Trong lịch sử âm nhạc của Hoa Kỳ, nét nhạc của người Mỹ Da Đen Phi Châu từ lúc bị đưa sang Châu Mỹ làm nô lệ, sống cực khổ, nghèo nàn, thiếu thốn và bị coi rẻ. Sau những lúc làm việc cực khổ và bị đầy đọa ban ngày, đêm đến, họ tụ họp với nhau để an ủi và ca hát cho quên đời.
Những bài hát luôn luôn có những nét bi khúc ai oán của cuộc đời, là than khóc, là kể lể, là xót xa, là quanh quẩn, là ước mơ với nhau.

Từ đó, sinh ra trường phái nhạc Blue, nhạc của người Mỹ Da Đen, ngắn gọn, đơn giản và ai oán.

Nhạc Việt Nam cũng tương tự như vậy.
 
Nếu thế, ngôn ngữ Việt Nam có chiều lấn át tiếng Anh về phương diện thi vị hóa và phong phú hóa nhất là trong văn thơ thi ca và âm nhạc.

Nhưng cuối con đường lấn át đó, nẩy sinh ra được cái gì?

Nẩy sinh ra lắm chuyện để rồi kết thúc bằng hai chữ Mày và Tao trên võ đài bằng miệng hay bằng chân tay.
Trong khi, tiếng Anh thì từ bắt đầu cho đến cuối cùng, YOU vẫn là YOU muôn đời, ít khi so găng.
 

Cám ơn các bạn đã đọc bài Lắm Chuyện của tui, lắm chuyện đến độ, tui không biết đúng hay sai.
Nếu không đúng, xin các bạn thêm bớt dùm.

Xin đa tạ.

Nguyễn Ngọc Phúc
.



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
László Krasznahorkai – nhà văn Hungary vừa được trao giải Nobel văn chương – nổi tiếng với những câu văn dài như một hơi thở kìm nén, nơi ý tưởng đi qua địa ngục mà vẫn giữ vẻ điềm tĩnh của thiên thần. Một thiên thần lướt trên chúng ta là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách ấy: giữa bùn lầy chiến hào và tiếng pháo rít xé trên đầu, một người lính cụt chân, mắt mờ, lại giảng về văn minh số, về văn hóa như bản năng sinh tồn của loài người. Chiến tranh vẫn gầm thét, nhưng lời anh vẫn tuôn, dài, sáng, và lạ thay – đầy hy vọng. Bản Việt ngữ của Ngu Yên dịch từ bản Anh ngữ của John Batki, giữ nguyên nhịp câu, những đoạn văn dài như dòng suy tưởng không dứt.
Khoảng hai giờ trước khi Mats Malm, vị thư ký trầm tĩnh của Viện Hàn Lâm Thụy Điển, bước ra, thế giới vừa nghe tin: Israel và Hamas ký hiệp định hòa bình. Một mẩu tin nhỏ, nhưng làm cả hành tinh thở nhẹ. Có lẽ, nếu tinh ý, người ta đã thấy khóe miệng vị diễn giả ấy nhích lên một nụ cười như thể dành riêng cho nhân loại, sau khi đã hứng chịu quá nhiều tuyệt vọng. Và rồi, cái tên được xướng lên: László Krasznahorkai, nhà văn Hungary – kẻ viết những câu văn dài như cơn hấp hối, nhưng mỗi chữ lại sáng rực như ngọn đèn dầu giữa đêm mất điện. Một bất ngờ… mà thật ra chẳng mấy ai bất ngờ. Viện Hàn lâm Thụy Điển, như thường lệ, lại khiến người ta ngạc nhiên bằng cách không hề ngạc nhiên.
Phân lý chữ nghĩa Bùi Giáng là việc làm nghiêm túc một cách khôi hài. Phê bình thơ Bùi Giáng là khôi hài một cách nghiêm túc. Tôi chú ý đến hai đối cực hài hòa này vì càng suy nghĩ, càng lý luận, thì càng cảm nhận chất khôi hài trong thơ Bùi Giáng là một đặc sản. Thưởng thức thơ Bùi Giáng, trước hết là thú vị với cách thế đùa nghịch chữ nghĩa và tứ thơ của ông, tiếp theo là những ngạc nhiên về chất lượng ngộ nghĩnh và biến hóa trong ý nghĩ, tư tưởng của Bùi Giáng một cách sâu sắc và sự sâu sắc này mang đến lòng ngưỡng mộ, vì sự sâu sắc này mà chúng ta cần phải nghiêm túc.Trước Bùi Giáng có rất nhiều nhà thơ làm thơ hài hước nổi danh như Tú Xương, và các ông tú sau này. Hầu hết các nhà thơ thành danh đều có thơ hài hước, như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, vân vân. Tuy nhiên, gần như những hài hước đó luôn kèm theo sự mỉa mai, nụ cười xách mé, mỉm cười khinh bỉ, nín cười che miệng, cười lớn chế nhạo. Trong khi chất khôi hài của Bùi Giáng qua thơ chỉ tạo ra nụ cười hoặc tức cười.
Văn học về sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết là một chủ đề cần thiết cho nhà văn sáng tác tác phẩm hư cấu bằng tiếng việt. Những nhà văn không học tập theo lề lối chính quy thường tự tin vào khả năng sáng tạo bẩm sinh và khả năng thu thập kinh nghiệm, gọi là “khiếu”, để trở thành nhà văn tự nhiên, cũng đôi khi là nhà văn bỗng nhiên. Những nhà văn được huấn luyện từ trường ốc, nếu không thường xuyên cập nhật văn học sáng tác đương đại, sẽ lỗi thời. Những nhà văn nổi bật trong lịch sử văn chương, thông thường là những người có khả năng tự học rất cao. Song song với sáng tác, họ là những nhà văn học lỗi lạc, cho dù, có thể họ không viết một điều gì về nghiên cứu phê bình. Tôi không phải là người có “khiếu” văn chương cao, cũng không thông qua quá trình học viện hoặc trường lớp sáng tác, chỉ có ý thích tìm hiểu văn học và thử nghiệm những gì đã nghiên cứu. [Không phải là lời khiêm nhường mà là lời trung thực.] Và “Nhận Thức Bảy T” là một phần góp nhặt mà tôi đã kinh qua.
Không có gia đình văn chương nào khiến người đời mãi mê nhắc tới như nhà Brontë. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, bao nhiêu thế hệ độc giả, học giả, nghệ sĩ đã lần lượt quay lại ngôi giáo đường nhỏ ở Yorkshire như hành hương về một thánh địa. Những tiểu sử, kịch bản, phim ảnh, cả những vật dụng tầm thường nhất như khăn trải bàn in hình ba chị em, tất cả tạo thành một nền công nghiệp ký ức, một tín ngưỡng lạ lùng quanh họ. Người ta cứ tìm cách viết thêm, kể thêm, như thể câu chuyện Brontë chưa từng trọn vẹn.
126 câu thơ 7 chữ, xứng đáng gọi bài thơ này là một trường ca. Một trong vài bài thơ dài được phân tích và phê bình nhiều lần bởi một số nhà phê bình chuyên và nhiều nhà bàn thơ tản mạn mang tính nghiệp dư. Hầu hết là khen ngợi sau khi giải thích những ý nghĩ tương đối dễ nắm bắt và những ngụ ý, ẩn dụ quen thuộc tạo nên sự dễ dàng cảm nhận. Đó là bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên. Nếu là một bài thơ có giá trị thật hoặc có giá trị bị hoài nghi thì công việc phân tích phê bình bài thơ đó sẽ được tiếp tục qua nhiều thế hệ, ví dụ như chúng ta tiếp tục tìm hiểu và phê phán “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm, hoặc cao hơn là “Kiều” của Nguyễn Du.
... Tôi cảm thấy may mắn vì tôi vẫn có thể kết nối với tổ tiên tôi qua tiếng nói. Nó giúp tôi vững tin hơn vào giá trị những gì tôi hằng tin tưởng và đam mê theo đuổi. Nó phả sức sống vào một người viết lưu vong, cô đơn, tại một bàn viết lữ thứ, cách xa quê hương cả một đại dương rộng lớn...
Khi viết, cô ở trong cơ thể mình, không thể phản bác lại điều đó. Nhưng làm sao giải thích được đồng thới cô cũng ở một nơi khác? Khi viết, cứ như thể cô đang làm việc từ độ cao sáu inch phía trên và ngay trước đầu mình. Nếu năng lượng viết rơi trở lại cơ thể, mọi thứ viết lách đều dừng lại.
Đời Phi Công là truyện vừa, 54 trang, gồm 9 chương. Theo lời tác giả: “Một tuyển tập những bức thư của một phi công viết cho một thiếu nữ còn đang là sinh viên ở đại học để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày bay trên gió mây trời”. Phượng cô em hàng xóm ông dạy kèm ở Hà Nội từ hồi nhỏ. Đầu lá thư ông chỉ viết “Phượng”, trong thư có thêm “Phượng em”!
Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”... Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v... qua những phương tiện truyền thông khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.