Hôm nay,  

Con Kỳ Quái

14/07/202419:58:00(Xem: 3294)
1

Truyện chớp. Ngu Yên.
 
 
Từ nhà quàn Vĩnh Biệt, ghé qua phố Bellaire, mua một lò gas đứng, để nấu nướng ngoài trời. Mùa hè đến rồi. Ngày mai sẽ trở lại đưa Định ra nghĩa địa. Lễ hạ huyệt lúc 1 giờ trưa. Giờ tốt. Giờ bói. Con cháu vinh hiển suốt đời. Chết rồi, xương cốt vẫn được tận dụng.  Vinh hiển? Gia đình Định giàu có nhất vùng này. Từ hai bàn tay trắng, anh làm nên sự nghiệp đồ sộ. Càng giàu càng không muốn buông. Dính cứng. Ung thư phổi, chết tuổi trung niên. Nhưng khi tắt thở, mắt anh chỉ nhắm hơn một nửa. Ai vuốt cũng không nhắm. Không dám làm thủ thuật dán kín mắt của nhà quàn vì sợ bên kia đời Định sẽ mù mãi mãi.  Đành cho mang anh đôi kính cận màu sậm lúc trưng bày trong quan tài.

Ráp xong lò, dựng lên sau nhà, dười tàng cây sồi rậm ri bóng mát. Bày bộ bàn ăn hai ghế, loại không sợ nắng mưa. Cắm một cây dù khá lớn vải xanh da trời. Cảnh ngoạn mục mà hai người ngồi ăn trưa, ăn chiều, uống rượu, uống trà cũng ngoạn mục. Của mới thường ham. Nướng thịt, nướng cá, nướng tôm liên tiếp ba bốn hôm. Miếng ăn ngon khiến tình vợ chồng thêm mặn mà. Vài ly bia say khiến tim thêm hứng khởi. Sống phải ngoạn mục. Bất kỳ thời giờ nào, hoàn cảnh nào, phức tạp nào, cũng biến chúng thành ngoạn mục. Tạo cho đời sống sinh động và hấp dẫn là nghĩa vụ của mỗi người. Bí quyết đầu tiên của ngoạn mục là nỗ lực thấy mọi thứ càng rõ càng tốt nhưng chỉ chăm chú những gì thú vị.

Muốn ngoạn mục tiếp tục mặn mà, hứng khởi, phải bảo tồn phương tiện mang đến hạnh phúc. Tôi bỏ ra nửa ngày Chủ nhật để rửa lò thật kỹ. Rồi lau chùi sáng bóng như ngày mới mang về.
-        “Em thấy chưa, mới tinh.”
-        “Anh hay rồi. Tại sao có cái lỗ dưới chân lò vậy?”

Một cái hang có miệng lỗ lớn bằng nắm tay có thể đút vào. Trước đây không thấy. Con gì mới đào cư ngụ ở đây?
-        “Coi chừng rắn. Đúng là rắn. Mùi nấu nướng lôi kéo những cóc nhái thằn lằn tìm đến. Nó chực sẵn đây, chờ mồi. Đúng là rắn rồi.

Vợ tôi lúc nào cũng có câu trả lời, đúng hay sai không phải là mục đích. Nhưng lần này có lẽ đúng. Con rắn chắc phải khá lớn, ít nhất bằng cườm tay. Không chắc. Rắn nhỏ cũng có thể đào hang lớn, như người giàu ở trong nhà lầu, biệt thự, lớn hơn cả trăm lần thân xác. Không đúng. Nhà giàu không tự xây nhà ở, nhưng con rắn phải tự đào hang. Sức đâu mà đào cho lớn.

Chắc gì đã là rắn? Chuột thì sao? Có lẽ. Nướng đồ biển, nướng thịt, làm sao khỏi làm rơi mảnh vụn. Chuột chiếm địa bàn này, chờ đêm bò lên tiệc tùng miễn phí, không lao động. Không lấy gì bảo đảm là chuột. Có thể con gì khác. Muốn biết phải rình? Hay là kế hoạch bắt luôn nó.

Trước khi trời tối, mang một tấm gỗ dài nửa thước, rộng hai gang tay, phết lên một lớp keo dán nền nhà, dẽo kẹo, rãi nhưng mảnh thức ăn thừa còn thơm hoa mỹ, rồi đặt dưới lò nướng. Tôi đi ngủ với nỗi hồi hộp, tò mò, mong đợi và một giấc mơ nguy hiểm.

Nhìn đồng hồ đã 4 giờ 51. Trời khá sáng. Mau ra xem thử con gì bị mắc bẫy. Chạy ra vườn, khom lưng nhìn dưới chân lò, nó. Mày bị trúng kế của tao rồi. Còn làm bộ hung dữ hả?
Dùng máy iPhone chụp nó tấm hình. Mang lên Google tìm hiểu. Không phải kỳ nhông vì nó có dãy răng cưa trên lưng. Không phải kỳ đà vì mặt nó ngắn. Nó tương tựa như một loại tắc kè có yếm đỏ nhưng nó không hoàn toàn giống hình trên mạng. Thân nó độ chừng hơn một gang tay, tròn cở cổ tay, đuôi rất dài và hai chân sau nhô cao lên, có vẻ chạy rất nhanh. Trên đầu có bốn cục u trông như muốn mọc sừng. Toàn thân màu đà đậm nhưng thiết kế lợn cợn, sần sùi, màu xanh rêu đậm. Không biết chính xác là con gì. Gọi là con “Kỳ Quái.”

2
Nó đứng như tượng biết cử động suốt ngày đêm. Tôi chưa biết phải làm gì với nó, nhưng tò mò muốn theo dõi. Mang thức ăn và nước uống mới đến mỗi buổi chiều. Tuy bốn chân bị dính cứng trong keo, nhưng mỗi khi tôi đến gần, ngày hôm trước, mắt nó tỏ vẻ giận dữ, cử chỉ hành hung như con vật trong màn múa rối; ngày hôm sau mắt tỏ vẻ nghĩ ngợi, cử động phòng thủ nhiều hơn hăm dọa; ngày thứ ba mắt nhìn thấy buồn bã và cầu khẩn, thoi thóp. Nó chết ngày thứ tư. Thân hình phục xuống trên bốn chân. Đầu gục về phía trước dính vào keo. Mắt nhắm hơn một nửa, hí nhìn không còn cảm giác.

Chẳng hiểu vì sao, ánh mắt nó làm tôi nhớ tới Định. Một người chồng tốt, một người cha tốt, một tín đồ tốt, một công dân tốt, một bạn tốt, một người gần như hoàn hảo, nhưng khi đến thăm Định lần cuối trong bệnh viện, anh nói: “Tôi chán đời sống này quá. Có lẽ, chết đi cũng là ơn phước.”  

Mắt của Định lúc đó nhìn tôi vô cùng buồn bã, khác những lần khi anh tranh tiên những hợp đồng sản xuất, ánh mắt giận dữ, khôn ngoan, linh hoạt. Khó mà biết được những xung đột trong tâm tư người khác, nếu họ không tâm sự. Cũng có những người nhận biết sự mâu thuẫn của mình. Hầu hết đều không hiểu rõ bản thân. Giận dữ, hăng hái đối phó với đời sống. Rồi một hôm, vì lý do nào đó, hoàn cảnh nào đó, câu nói nào đó, thức tỉnh trong mơ hồ, nghĩ ngợi về giá trị đời sống. Thường thường là quá muộn. Chân bị chôn chặt vào những thứ tưởng là hạnh phúc, một loại hạnh phúc keo. Tôi vẫn còn nghe bên tại, tiếng Định nói: “Tôi có tất cả mọi thứ nhưng tất cả mọi thứ đó không thuộc về tôi.” Định sống đời còn lại, dính cứng, như tượng biết cử động. Để rồi một hôm mắt hí nhỏ hơn một nửa, vô cảm.

Tôi chôn con kỳ quái, chôn Định, nhưng không thể chôn thứ keo gì đã dính cứng đời mình. Làm người là để xông xáo tìm kiếm và thu đạt những gì mong ước. Sau một thời gian, sẽ bị dính cứng vào thứ này, thứ mà ai cũng tưởng và tin là hạnh phúc. Đêm đó, không ngủ được. Tôi thử nằm im tĩnh, hí mắt lại, nhìn xung quanh, dường như có thể nhìn thấy mọi vật rõ hơn là khi mở mắt to. Chợt một ý nghĩ mon men, muốn thấy rõ phải hí mắt. Ngay lúc đó, tôi cảm thấy thấm thía hơn hai chữ “ngoạn mục.”

Ngu Yên

Từ khi du học ở Pháp vào đầu thập niên 1950’, trở về Việt Nam làm việc cho hãng Shell rồi sang Pháp làm việc cho đến khi về hưu và định cư cho đến nay… cả cuộc đời nhà văn Tiểu Tử gắn bó với tiếng Pháp nhưng khi cầm bút nơi xứ người với văn phong đặc biệt “miền Nam”, giản dị, ngắn gọn, chân chất, dí dỏm từ giọng văn và các mẩu đối thoại. Về tiểu sử cũng ngắn gọn: Tiểu Tử tên thật là Võ Hoài Nam, sinh năm 1930 tại Gò Dầu Tây Ninh. Ông là con trai duy nhứt của nhà giáo Võ Thành Cứ, giáo sư trường trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn. Tốt nghiệp Kỹ sư, Marseille năm 1955. Dạy lý hoá trung học ở ngôi trường nầy niên khóa 1955-1956. Tháng 10/1956 làm việc cho hãng dầu Shell Việt Nam từ năm tháng 10 1956 đến 30/4/1975. Trong 3 năm (1975-1978) được trưng dụng làm việc cho hãng nầy. Trong thời gian đó, vượt biên 3 lần nhưng thất bại. Vượt biên cuối năm 1978. Định cư ở Pháp từ đầu năm 1979. Làm việc cho hãng đường mía của Côte d’ Ivoire (Phi Châu) 1979-1982. Làm việc cho hãn
Hôm nay là ngày lễ Manman Aloumandia, ngày giỗ tổ tiên của người Haiti vào cuối tháng Chín. Nhà nào cũng chuẩn bị thức ăn truyền thống và hành lễ cảm tạ ông bà đã giữ gìn an toàn cho con cháu, nhất là sau vụ bị hàm oan, họ càng thấm thía sự bình yên hơn. Di dân, hầu hết là tha phương bất đắc dĩ, như phận gái đi lấy chồng, mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu.
Những tia nắng hồng cuối cùng đã tắt trong ánh hoàng hôn chiều tà nhưng bầu trời vẫn trong sáng từ một thứ ánh sáng huyền bí; vẫn chưa có vì tinh tú nào xuất hiện, tuy nhiên màn đêm hôm nay hẳn là một trong những buổi chiều tối đẹp nhất mà cả thế gian này chưa từng bao giờ chứng kiến. Bên phía đại dương, nhìn như có vẻ tối tăm sẫm màu hơn dưới bầu trời rực sáng; bóng tối hoặc ánh màu phản chiếu không còn in trên nền đất liền màu nâu đậm nữa; toàn bộ phần vách đã gần đó giờ chỉ còn là một khối khổng lồ, là một khối đá hoa cương khô khan chênh vênh, nguy hiểm. Con đường mòn gồ ghề trắc trở chạy men theo bờ biển dọc theo những tảng đá, nơi đó những con sóng rì rầm đập vào không ngớt, nơi đây những người dân làng có việc cần hoặc những người chăn cừu đưa bọn cừu hoang dã chưa được thuần thục đã dẫm đạp lên ngàn vạn lần.
Cuốn sách này không ở đâu có, kể cả thư viện quốc hội Hoa Kỳ. Chỉ bạn có và người Việt có. Nhưng bạn không thể đọc hết hơn ngàn trang trong một lần. Chỉ đọc bài nào vừa ý. Những bài khác cứ hẹn tái ngộ, vì, có khi, một hôm bạn sẽ thích một bài mà bạn không thích trước đây. Có thích mới muốn đọc nhưng thích là động lực tâm tình giới hạn trí tuệ.
Trong số khách đến viếng chùa, có người con gái chừng độ tuổi trăng tròn, không son phấn điểm trang, nhưng nàng trông thật diễm lệ. Nàng nâng niu từng cành hoa mẫu đơn. Trong lúc sơ ý nàng vướn gẫy một cành hoa. Người coi vườn bắt trói nàng đòi tiền chuộc tội.
Lần cuối, nghĩa là lần mới nhất, không phải là lần cuối cùng, tôi gặp Trương Vũ tại nhà của Trần Vũ, khi Trương Vũ ghé Quận Cam, trước khi anh bay lên Bắc California để thăm chị ruột của anh, họa sĩ Trương Thị Thịnh. Lúc đó là, có lẽ năm ngoái. Lúc đó, mối giao tình của Trương Vũ và tôi đã trải rộng từ hơn ba thập niên, từ những ngày tôi còn ở Miền Đông Hoa Kỳ. Thời xa xưa, tôi gọi anh bằng tên là anh Sơn, anh Trương Hồng Sơn, khi nhìn anh như một nhà khoa học. Và nhiều năm sau, khi đọc nhiều bài viết của anh trên Văn Học và Hợp Lưu, tôi gọi anh qua bút hiệu là Trương Vũ. Rồi vài năm gần đây là nhìn anh như họa sĩ. Thời gian đã cho anh hiển lộ qua nhiều tài năng, và với rất nhiều tóc bạc. Nhưng nụ cười của Trương Vũ vẫn hiền lành, đôi mắt vẫn tinh anh, cử chỉ và thái độ vẫn luôn là từ tốn, cẩn trọng, dịu dàng.
Trải qua gần bảy thập niên, từ cuối thập niên 1950’ đến nay, trong lãnh vực báo chí và văn chương, tên tuổi Trần Dạ Từ, Nhã Ca nổi bật, quen thuộc với giới báo chí, văn nghệ sỹ và độc giả từ miền Nam Việt Nam ở hải ngoại. Với nhiều bài viết về Trần Dạ Từ trên nhiều khía cạnh trong sự nghiệp và sáng tác nên nếu viết cũng là sự lặp lại, vì vậy trong bài viết nầy trích dẫn bạn văn, bạn tù đã sống gần gũi nhau đã viết về ông, nhất là bạn tù.
Ông Tri vung tay hất đổ chén canh, vỡ nhiều mảnh trên nền nhà, tung toé mùng tơi và tôm khô. Ông đưa tay lên lần thứ hai, muốn tát vào mặt con rể. Anh nắm tay ông lại. Lòng tung tóe giận dữ. Ánh mắt giết người làm ông sợ hãi. Rụt tay lại. Quay mặt vào vách. Anh hít một hơi đầy, thở mạnh ra. Xả cơn giận. Đứng lên đi dọn dẹp. Những mảnh chén vỡ làm anh nhớ lại lần đầu tiên khi anh đến nhà thăm Lài, ông Tri đã giận dữ đập vỡ tách trà vì không muốn con gái ông quen biết với người nhìn bề ngoài trông giống du đảng, tóc dài và ăn mặc không tiêu chuẩn.
Măc dầu câu kết của hai bài thơ của họ Thôi và ho Lý đều kết thúc bởi câu “sử nhân sầu” Nhưng cái buồn của họ Thôi, cái buồn của người hiểu thế sự. Cái buồn của họ Lý là cái buồn tích cực nhập thế. Họ Thôi thì nhớ về quê hương còn họ Lý thì nhớ thủ đô Tràng An. Như vậy xem ra mối sâu của Thôi Hiệu và của Lý Bạch không giống nhau. Hai bài thơ có những ưu điểm riêng, bổ túc cho nhau.
Bài thơ Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường vào đầu thế kỷ XIX của khuyết danh chỉ đề cập tổng quát, được đề cập nhiều (Sau nầy có bài thơ của Nguyễn Bính nhưng không có gọi tên phố phường). Tác phẩm Hà Nội 36 Phố Phường của nhà văn Thạch Lam (1910-1942) ấn hành năm 1943 được phổ biến rộng rãi, được mọi người biết đến nếp sống, sinh hoạt… của Hà Nội xa xưa.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.