Hôm nay,  

Đuôi Tóc Bím

09/08/202400:00:00(Xem: 2637)
ScreenHunter 73
Mẹ tôi, sinh nhật nào cũng bốn cây bạch lạp thắp sáng, năm nào bà cũng bốn mươi tuổi, không già hơn. Sinh nhật năm nay cũng vậy. Đàn cháu hát hăm hở Happy Birthday mừng bà nội. Mừng điều gì, tôi không biết. Sống lâu? Bà gần như không bao giờ chết. Xinh đẹp? Bà có bao giờ thay đổi đâu. Khỏe mạnh? Bà sẽ không bao giờ bệnh. Có lẽ con gái tôi biết được điều gì tôi không biết. “Chúc bà nội năm nay có tình yêu.” Cả đám con cháu cười vang kèm theo  tiếng vỗ tay. Mẹ cười âu yếm. Trong căn phòng khách này, tôi là người già nhất và là người lạc hậu nhất.
Mẹ tôi qua đời năm bốn mươi tuổi vì bệnh ung thư ngực. Lúc đó, tôi chỉ mới lên bảy, chị tôi lên mười. Nghe người ta than thở về hoàn cảnh mồ côi mẹ, nhưng tôi không biết có mẹ là như thế nào trong lúc lớn lên. Hai chị em tôi mọc cao như cây bỏ thí ngoài vũ trụ.

Sáng, chim đồn nhau, cha đi tù vì chống chế độ thống trị, hôm qua ông bị bắt ở hành tinh X152. Đêm, chim báo tin cha vượt ngục bị bắn hạ, xác mất tích tan vào không gian. Gió khuya khoắt lò qua cửa gương vỡ nhẹ nhàng như bàn tay thân thiết vỗ về tôi dù bàn tay lạnh lẽo. Chị ôm tôi thì thầm, “Mai em muốn ăn rễ sắn hay rễ mì?” “Ăn ễnh ương nướng, em bắt cho.” Sau đó, nghe chị lầm bầm giống như đang nói chuyện với ai rất sụt sùi. Không có mẹ là như vậy sao?

Mẹ tôi có mái tóc dài đen nhánh phủ đến bờ mông. Mái tóc bà đẹp nhất phố. Cha tôi nói, mỗi khi mẹ xoay người trong gió mạnh, một màn tóc đen bay rợp mê hồn. Khi biết mình không còn sống bao lâu nữa, bà đã nhờ dì tôi đến cắt mái tóc, bện thành một đuôi bím, đưa cho cha để làm di vật. Khúc tóc này thấm trộn biết bao là nước mắt của mẹ, của dì, của cha, của chị và của tôi.

Cha trao bím tóc cho chị trước khi đi theo cách mạng. Chị trao bím tóc cho tôi trước khi qua đời. Tôi săn sóc bím, mỗi đầu tháng tẩm một chút dầu cho khỏi khô khan, tẩm một chút trầm hương, vừa thơm vừa trừ mối mọt. Rồi con gái tôi xin cắt một chút ở đuôi bím. “Con muốn nghiên cứu tóc bà nội. Có một dự án mới về DNA nơi trung tâm khoa học nhân sinh, còn đang thử nghiệm, con sẽ đưa tóc bà nội vào kế hoạch thử tóc.”  

Mẹ rất mơ hồ trong trí nhớ, tôi chỉ có thể hình dung bà qua tấm hình điện tử mà cha tôi để lại. Nhưng bím tóc luôn luôn làm tôi xúc động. Thực sự đang cầm một phần thân thể của mẹ. Đưa lên mũi hít vào thật sâu, không biết mùi nào là mùi của mẹ.   

Con nhớ, hôm đó, sinh nhật con, mẹ dẫn ra phố. Không đủ tiền, chỉ mua được một cái bánh kem nhỏ. Mẹ dặn, phải ăn hết trước khi về đến nhà. Có mẹ có phải là như vậy không?

Con nhớ ám ảnh, một lần con bị sốt nặng, chập chờn tỉnh mê. Nghe mẹ khóc. Nghe bác sĩ đặt ống thở, robot chích thuốc. Cảm giác đau nhức, mơ màng, tối tăm, hực lửa. Con thiếp đi rồi nghe mẹ khóc rất lớn, con mở mắt, nắm tay mẹ. Mẹ bật cười nước mắt còn chảy, như bà Sáu khùng vừa tỉnh cơn điên. Có mẹ có phải là như vậy không?

Tết năm 2050, bước vào tuổi bảy mươi, con cháu mừng thọ lớn, tặng tôi món quà kinh ngạc quá sức tưởng tượng. Vẫn giữ tập tục lì xì, sau khi chúc tết, tôi bấm cho mỗi đứa một khoảng tiền chạy thẳng vào trương mục. Tôi đứng lên chuẩn bị khai mạc bàn tiệc. Bỗng dưng đám con cháu kéo đến sắp hàng trước mặt chận tôi lại. Bắt ngồi xuống. Thằng cháu ngoại lớn nhất đại diện nói tiếng Việt rất dở, tôi không thực sự hiểu, nhưng ông ngoại cứ khuyến khích, vỗ tay.  

Hàng ngũ chen lấn trước mặt đột nhiên mở ra ở giữa và thấy mẹ tôi đứng đó. Cảm giác tê người, đờ đẫn. Một khoảnh khắc trống rỗng mênh mông, đóng băng, tê liệt hơi thở. Rồi ập xuống cơn mưa xối xả từ đôi mắt.
 
Ngu Yên
 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thơ quả đã giúp cho Phùng Cung sống sót, sau những năm dài tù ngục, và là chỗ dựa cho những người thất thế (như ông) đứng lên làm lại cuộc đời. Và cuộc đời te tua, tả tơi, bầm dập của Phùng Cung cũng khiến tôi thốt nhớ đến những người cầm viết khác – cùng thời với ông – những kẻ đã dựa vào thơ văn chỉ để kiếm chút công danh, hay bổng lộc.
Người ra đi lòng vẫn nhớ, con tim chia hai nửa mang theo nửa để laị quê nhà. Phần nhiều ai cũng nhớ quê hương, với những gã du tử thì càng tha thiết biết bao. Những gã du tử mang nghiệp chữ lòng mang mang viết nên những bài thơ, áng văn dâng cho đời. Mùa xuân về nước non cố quận mình tưng bừng trẩy hội, cho dù có nhiều hư hao và dang dở. Nước non dù còn nhiều nguy hiểm tồn vong, đời dù lắm dâu bể đổi thay, lòng người dù đa đoan… nhưng tình vẫn tha thiết lắm em ơi!
Ngàn năm trước, sau khi Trần Nhân Tông (Trần Khâm) truyền ngôi cho thái tử Trần Thuyên - tức vua Trần Anh Tông – Nhân Tông lên làm Thái Thượng Hoàng. Một năm sau Thượng Hoàng lên ngọn Tử Tiêu núi Yên Tử tu hành, lấy pháp hiệu Điều Ngự Giác Hoàng, lập ra Thiền Phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang đậm bản sắc văn hóa Việt. Thời gian này tại chùa Hoa Yên (Yên Tử), Giác Hoàng mở các buổi thuyết pháp cho tăng chúng, thu nhận nhiều đệ tử.
Bên cạnh mười bài giảng của Thầy Phước Tịnh là mười bài Thiền Ca Chăn Trâu được kẻ nhạc do nhạc sĩ Tâm Nhuận Phúc sáng tác, dựa theo thơ Thầy Tuệ Sỹ. Sách in trên giấy đẹp, khổ vuông 8.5X8.5 inches, dày 90 trang. Sách “Mõ Trâu” do Tâm Nguyên Nhẫn thực hiện chỉ 30 ấn bản để tặng, theo các pháp thoại do Doãn Hương sưu tập lời giảng của Thầy Phước Tịnh về Thập Mục Ngưu Đồ. Doãn Vinh vẽ bìa và phụ bản. Nguyễn Đình Hiếu trình bày. Tâm Tường Chơn biên soạn. Bài này sẽ nhìn Thập Mưu Ngục Đồ qua bản đồ học Phật của Đấng Thế Tôn. Trong hai tạng Kinh A Hàm và Nikaya, Đức Phật đã từng so sánh tiến trình tu tâm như việc chăn bò. Trong Phật Giáo Tây Tạng, cũng có một hướng dẫn tương tự như tranh chăn trâu, nhưng là lộ trình chín giai đoạn chăn voi. / A HÀM, NIKAYA: CHĂN BÒ, THIỀN TÔNG VÀ HẠNH BỒ TÁT/ Trong Kinh Tạp A Hàm SA 1249, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Đức Thắng, Đức Phật dạy về kỹ năng tu tâm tương tự như kỹ năng chăn bò, với 11 pháp người chăn bò cần khéo biết.
Ngày Đại Lễ Phật Đản đã được Đại Hội Phật Giáo Thế Giới lần đầu tiên tổ chức tại thủ đô Columbo của Tích Lan năm 1950 ấn định là ngày Rằm tháng tư Âm Lịch hay ngày trăng tròn tháng Vesak của Ấn Độ, tức tháng 5 Dương Lịch. Kể từ đó, các tổ chức Phật Giáo trên thế giới đều lấy ngày này làm ngày lễ chính thức kỷ niệm Đức Phật Đản Sinh. Theo đề nghị của 34 quốc gia có đa số người dân là Phật tử, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc trong phiên họp lần thứ 54 vào ngày 15 tháng 12 năm 1999 đã thông qua Nghị Quyết tuyên dương tinh thần từ bi, trí tuệ và hòa bình của Đức Phật và chính thức tổ chức Ngày Đại Lễ Vesak vào tháng 5 để kỷ niệm đức Phật đản sinh, giác ngộ và nhập niết bàn. Nhân mùa Phật Đản lần thứ 2644 năm nay, xin trích dịch câu chuyện về cuộc đời của đức Phật do Bhikkhu Bodhi viết trong bài “The Buddha and His Dhamma” [Đức Phật và Giáo Pháp Của Ngài]. Bhikkhu là tiếng Nam Phạn (Pali) chỉ giới phẩm Tỳ Kheo của một vị xuất gia trong Phật Giáo. Vì vậy, Bhikkhu Bodhi là Tỳ Kheo Bodhi.
Thành phố của tôi đích thực là Hà Nội: tôi sinh ra ở đó, tôi đã sống trọn vẹn thời tuổi trẻ ở đó. Nhưng tôi có một ông bác ưa phiêu lưu, sớm rời bỏ thành phố sinh trưởng, đi bén rễ ở một nơi mà ngày nhỏ tôi tưởng như xa xôi lắm. Đảo Phú Quốc ở mãi tận cùng đất nước. Những giấc mơ tuổi trẻ của tôi thường hướng về chân trời thật xa đó. Những giấc mơ cũng có khi hiện thành sự thật với những gánh hát tự miền xa tới trình diễn. Bao nhiêu đêm rực rỡ ánh sáng tiền trường, vang vang tiếng ca giọng nói của miền xa
Ngày 30 tháng 4 năm 2020 đánh dấu 45 năm Miền Nam Việt Nam thất thủ. Khởi đi từ đó dù cuộc chiến bom đạn đã chấm dứt trên quê hương nhưng lại mở ra một trận chiến âm thầm khốc liệt và đau thương khác cho dân tộc. Đó là cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác, giữa tự do và độc tài, giữa nhân đạo và bất nhân mà bằng chứng cụ thể là hàng triệu người dân ruồng bỏ chế độ độc tài đảng trị tàn bạo cộng sản ra đi bằng đường bộ và đường biển khiến cho cả triệu người phải vùi thây dưới lòng đại dương hay chôn thân trong rừng sâu núi thẳm. Từ bối cảnh đó hai chữ “thuyền nhân” ra đời trong sự thức tỉnh của lương tâm nhân loại trước định mệnh nghiệt ngã của dân tộc Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20. Trong ý nghĩa này, thuyền nhân là những người dám xông vào cõi chết để tìm đất sống.Tại sao phải bỏ nước ra đi? Tại sao một dân tộc có lịch sử mấy nghìn năm kiên trì bất bại bám giữ từng tấc đất của ông bà tổ tiên để lại như người Việt Nam lại phải chọn lựa cho mình con đường bỏ nước ra đi đầy hung hiểm
Ba người đàn ông ngồi quây xung quanh cái bàn gỗ tròn trong quán và cùng hướng về phía quốc lộ chạy mất hút vào trong rừng cao su ở hai bên. Quán bằng lá nằm cuối dãy phố mươi lăm chiếc nhà, sát cạnh con đường đất xe hơi có thể vào, ngăn phố với rừng cao su. Đầu trên dãy phố là đồn dân vệ rào ba lần thép gai trên treo lủng lẳng những ống lon rỉ. Người đàn ông ngồi ngoài cùng kế cây cột chống, mặc áo lá và quần xà lỏn, một chân co lên mặt ghế, tay bưng ly cà phê uống từ hớp nhỏ. Người đàn ông liền bên vận quần áo ka-ki sờn rách, đầu đội nón bẻ vành, chân đi giày không vớ, cầm chiếc muỗng nhỏ xíu gõ nhịp lên bàn. Người ngồi tách riêng một phía già hơn hết, tóc tiêu muối, vận quần lãnh đen bám bụi đỏ, áo túi trắng ngả màu, trước một ly cà phê sữa. “Có lẽ tụi nó về hết rồi.” Ông già nói. “Còn mà. Ít nhất còn cái 601 chưa về.” “Vậy ai chơi nổi với mày nữa. Mày thuộc hết số xe còn gì? Thằng này điếm quá.” “Ờ... tôi nhớ nhưng biết cái nào tới trước cái nào tới sau?”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.