Hôm nay,  

Phỉnh

02/01/202500:00:00(Xem: 3914)

Phỉnh
Truyện vừa, Khánh Trường.
 
LTS: Lục lại những email cuối, Khánh Trường viết: “Nina, chú đã hoàn chỉnh, cháu “save” vào 1 file riêng để mai mốt xong sẽ nhờ người layout rồi gửi in.”  Email kế tiếp là hình hai bìa khác nhau. KT viết: “Một bìa chú sẽ post lên facebook để “phỉnh”, bìa sau cháu giữ trong máy. Sẽ in. Sẽ chuyển dần cho cháu dò chánh tã.” (Những người biết KT, biết chữ “tã” của KT dấu “ngã”.)

Sách “Phỉnh” không biết đã được bao nhiêu đoạn trong máy computer, nhưng đây là phần I của cuốn tiểu thuyết cuối cùng Khánh Trường đang viết dở... với hình bìa sau đã hoàn chỉnh...  Riêng bìa trước xin chờ xem khi/nếu sách được in trong tương lai. (Nina HB Lê)
 
*

KHÁNH TRƯỜNG
Tặng cháu của chú, Nina Hòa Bình Lê

*
 
là khi trái tim phỉnh cái đầu
mở ra bầu trời
mời gọi giấc mơ
là khi chênh vênh trên miệng vực
ảo tưởng một bàn tay
chìa ra hy vọng                  
(Nina Hòa Bình Lê)

phỉnh-bìa-sau
Bìa sau sách Phỉnh
  
Phần I
 
Khu Nursing Home gồm bốn dãy nhà quây thành hình vuông. Mỗi dãy có tám phòng, cửa mở ra chái hiên rộng, lát gạch hoa có tam cấp dẫn vào mảnh vườn trồng nhiều cây trái nhiệt đới: mít, xoài, nhãn lồng, xen kẽ những loại cây và hoa đậm chất đông phương: tùng, liễu, mẫu đơn, phật quả, thiết mộc lan và hồ rộng, thiết kế mỹ thuật. Những con thác từ các mỏm đá cao đổ xuống tung bọt trắng xóa, đàn cá koi nhởn nhơ quanh các bụi thủy trúc, rải rác nhiều khóm liễu vươn ra từ bờ, sà thấp chạm mặt nước. Mùa hè, sáng, chiều, luôn có các lão niên ngồi trên những băng ghế đá, dưới các gốc cây phủ kín bóng mát bởi những tàn lá rộng, hóng gió, tán gẫu hoặc bày trò vui.

Chủ nhân cơ ngơi này là một người Mỹ gốc Á, đứng tuổi, nên không lạ khi mảnh vườn có khí vị tựa các mảnh vườn thường được mô tả trong các cổ thư Trung Hoa, trầm mặc, sâu lắng.

Tháng mười, lạnh. Buổi chiều thường có những cơn mưa, tiếng mưa rì rào trên mái, nhịp đều. Ông già lăn xe sát khung kính nhìn ra hồ nước lấp lánh vô số hạt thủy tinh phát sinh bởi ánh sáng từ những bóng đèn cách quãng trên bốn chái hiên bao quanh. Không khí tịch mịch. Mọi tiếng động đã bị bức tường cao quanh khu Nursing Home ngăn lại, tách lìa hẳn thế giới phồn hoa và phức tạp, bên ngoài.

Ông già vào đây đã gần ba tháng. Sau ngày vợ bị ung thư phổi qua đời, cậu con trai ở tiểu bang miền đông muốn ông già sang với gia đình hắn nhưng ông bảo,

“Người già rất sợ lạnh, ở đây nắng ấm hợp với ba hơn.”

“Ở đây ai lo cho ba?”, đứa con hỏi.

“Nghe nói có Nursing Home của người Á, hy vọng có nhiều đồng hương bầu bạn. Mày thử hỏi xem, ba muốn vào đó.”

“Không được đâu, người ta đồn, hàng ngày, ở trỏng buồn, bệnh trầm cảm sẽ đưa ba đi sớm.”

“Ối dào, đồn nhảm. Bệnh nhân nặng có khu riêng, chăm sóc đặc biệt, cách ly với người cao niên hoặc bệnh nhẹ. Ba có người bạn ở đó hai năm rồi, ông ta nói rất đầy đủ, từ ăn uống, tắm giặt, khám bệnh, thuốc men và cả vật lý trị liệu, nếu cần. Nói tóm, mọi thứ đã có y công, y tá, y sĩ lo. Cuối tuần thường có các nhóm thiện nguyện đến phát quà, văn nghệ, múa hát, biểu diễn ảo thuật. Lại nữa, có bầu bạn cùng trang lứa trò chuyện, bày nhiều thú vui, cờ tướng, cá ngựa, domino. Qua bển, vợ chồng mày đi làm, các cháu đi học, ba ở nhà một mình, lạnh và cô quạnh, có mà chết sớm thì có.”

Cậu con trai đành chiều ý bố, lên mạng tìm một Nursing Home hội đủ tiên chuẩn như ông già muốn, rồi làm thủ tục đưa ông già vào.

Phòng sáng và thoáng nhờ cửa kính lớn, màn mở toàn phần ban ngày, cộng hai hộp đèn dài turn-on suốt đêm. Mỗi bên ba giường, kê đầu sát tường, phía trên mỗi đầu giường trang bị đầy đủ, ống thở oxy, máy đo áp huyết, máy đo điện tâm đồ. Lối đi ở giữa rộng, thoải mái cho y tá mỗi sáng, chiều đẩy xe đến từng giường, kiểm tra sức khỏe, cho uống thuốc, vui vẻ thăm hỏi, giải thích hoặc đáp ứng mọi yêu cầu của bệnh nhân nếu có thể.

Giường cạnh ông già là một trung niên. Anh ta khoe trước ngày vào đây là một người thích các hoạt động thể dục thể thao, trong một lần đi câu, bị con cá mập mắc câu lôi xuống nước, sau mươi phút chiến đấu một mất một còn, anh ta hạ được con cá bằng nhiều nhát dao nhưng cũng bị nó cắn nát chân phải. Vì thân nhân ở tiểu bang khác nên phải vào đây nghỉ dưỡng. Gã trung niên người Việt, vui tính, hiếu động, trêu chọc đôi lúc khá thô bạo các y tá, thường ba hoa (nhiều phần cường điệu) những cuộc đi câu dài ngày, một mình giữa trời biển mênh mông, có khi sóng êm bể lặng, có lúc bất ngờ bão to gió lớn, có lần phải vật lộn hàng giờ sống chết với những loại cá to hung tợn.

“Bác biết không, toi mạng như chơi nhưng thú lắm”, anh ta nói kèm nụ cười tự mãn.

Giường bên trái là một ông già tóc bạc trắng, ốm, da đồi mồi, giọng nói ngọng. Ông già là chủ một Liquor, nghiện rượu, lúc chưa bị tai biến, ngày nào cũng phải ít nhất hai phần ba chai cô-nhắc. Nửa phần bên trái của ông ta bất khiển dụng, nên dù chưa ngồi xe lăn, song bước chân đi kiểu chấm phẩy. Tuy phát âm khó khăn, ông già vẫn ham nói, người nghe phải chú ý và đoán mới hiểu.

“Bọn homeless thường xuyên vào xin thuốc lá, bịch chip, cái donut, hoặc lon nước ngọt, khúc sandwich kẹp hotdog. Không cho không được, đêm chúng trây trét phân lên cửa kính, cách trả thù thầm lặng mà thâm.”

Ông già tặc lưỡi,

“Thà mất chút đỉnh còn hơn phải lau chùi, vừa tốn thì giờ vừa tởm.”

Giường đối diện là một bà Mỹ trắng, dễ chừng đã trên dưới tám mươi nhưng vẫn chăm chỉ phấn son hàng ngày. Bà không chồng, có cô con gái hình như cùng nghề với mẹ, cũng body bốc lửa, hai trái vú như hai quả dừa xiêm, muốn nhảy chồm khỏi cổ áo pull. Trung bình hai tuần một lần vào thăm mẹ, qua quýt vài lời hỏi han lấy lệ rồi dông. Bà ta bảo, hồi còn trẻ, bà là vũ công múa cột xuất sắc của một Night Club.

“Có phải các Night Club đường H.?”

“Yes, what do you know?”

Ông già không đánh cũng khai,

“Thuở xưa tôi thường đến.”

Tuy các Night Club này chỉ khỏa thân năm mươi phần trăm thôi, nhưng vẫn rất hấp dẫn, vũ công sở hữu một thân thể, rất mời gọi chiếu chăn.

Thường, sau mỗi lần ra khỏi cửa, thể nào ông già cũng mò đến động quen cách hộp đêm chừng hai dặm, cùng con đường, do người Việt Nam làm chủ, để tìm chút “tươi mát”, dù ngày đó vợ ông già còn trẻ, nhan sắc chưa tàn phai. Bọn đàn ông hầu hết đều thế, phở ngon hơn cơm!

Hai người nữa. Một ông Ấn Độ, chủ nhân một Motel loại tầm tầm, ở địa phận nổi tiếng nhiều băng đảng và gái ăn sương. Ông ta bảo, tuy dữ dằn thế vẫn khá tốt, vì nhờ bọn đầu trộm đuôi cướp bảo kê, tốn kém nhưng so ra vẫn còn lời chán. Bọn gái ăn sương thuê phòng không dám dở trò quỵt tiền, hơn thế, nếu bắt được những con mồi sộp, các em thường “lại quả” hào phóng.

Việt Nam có câu “sang như đĩ”, quả không sai.

Bà còn lại, gốc Phi, thiếu thước và tròn quay như bao gạo trăm ký, đi đứng lạch bạch, luôn miệng nhóp nhép các loại chip, khoai tây, lúa mạch, bắp, và lãng tai trầm trọng, mỗi lần muốn trò chuyện phải nói như hét. Bà ta có anh con trai rất hiếu thảo, mỗi chiều luôn vào thăm, không quên mang food to go và các thức ăn vặt theo yêu cầu của mẹ, vì she không ăn được món Mỹ. Anh ta than không thể để mẹ ở nhà vì còn độc thân, lại phải đi làm.

“Lúc còn khỏe my mom chu toàn mọi thứ, chợ búa, nấu nướng, giặt giũ, dọn dẹp cửa nhà. Từ ngày she bị tai biến me phải tự lo thân, cơm hàng cháo chợ, ngán tận cổ, đành chịu.” Anh con trai thở dài cám cảnh.
 
Khu Nursing Home này được nhà nước bao cấp. Hầu hết thuộc thành phần lao động, thu nhập dưới trung bình, thường ăn trợ cấp hoặc như ông già, bảo hiểm thấp. Tuy vậy, nhìn chung, ông già cảm thấy vui, nghĩ chắc chắn sẽ hơn nhiều, nếu phải sang ở với vợ chồng thằng con trai, cơm nước có thể hợp khẩu vị, nhưng tuổi già, ẩm thực không quan trọng, cái quan trọng là không phải vò võ cô quạnh.
 
Mưa vẫn rơi tuy không lớn nhưng dai dẳng chẳng khác mùa đông ở quê nhà, hiện tượng bất thường so với thời gian trước. Vài năm gần đây, theo các nhà khí tượng học do tác động khí thải nhà kính, trái đất nóng lên, hành tinh của chúng ta nói chung, California nói riêng, nạn động đất, thời tiết thay đổi khó lường. Lúc thì hạn hán, cháy rừng, khi thì mưa dầm sùi sụt, lũ lụt, đất chuồi. Nếu không sớm tìm giải pháp khắc phục, nguy cơ động đất, sóng thần sẽ xảy ra khắp nơi, và có thể nhiều quốc gia ven biển, Việt Nam chẳng hạn, sẽ đối diện với nạn mất đất hoặc đất nhiễm mặn không thể canh tác, vì khí hậu nóng lên, băng tan ở bắc cực khiến nước biển dâng cao. Thảm trạng đói kém do thiên tai hoặc con người gây nên (chiến tranh hạt nhân, ví dụ), sẽ đẩy nhân loại vào cảnh khốn cùng, diệt vong. Ông già nghĩ, bốn tỷ rưỡi năm trôi qua, từ lúc trái đất khai sinh, đã có vô số biến thiên, thậm chí, nhiều nền văn minh bị xóa sạch, định luật vô thường tái đi tái lại không biết bao nhiêu lần, sá gì vài ba kiếp người cỏn con!

Nói theo triết học đông phương, có sinh ắt có diệt, có thịnh ắt có suy, có thành ắt có bại, chuyện tất nhiên, như thời tiết bốn mùa. Hết mưa đến nắng, hết đông sang xuân, vòng tuần hoàn bất tận từ vô thủy đến vô chung, hơi đâu toan tính sâu xa, khéo lo con bò trắng răng!

Trời đã sáng hẳn, đồng hồ treo tường gõ tám tiếng. Ngày mới bắt đầu với mọi sinh hoạt bất biến. Ông già nghe thấy tiếng động quen thuộc ngoài hành lang, y công đang đi gom rác, thức ăn thừa chứa trong các thùng nhựa lớn đặt trước mỗi phòng, và thay ra, bao gối hay quần áo dơ cho người nào cần giúp. Cũng là giờ y tá đẩy xe thuốc đến từng giường.

Ngày mai chủ nhật, sẽ có nhóm thiện nguyện thuộc đại học cộng đồng thành phố sở tại vào ủy lạo, có cả trình diễn văn nghệ do các sinh viên đảm trách. Bà manager cho biết hồi chiều.
 
(còn tiếp)
Khánh Trường
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lần cuối, nghĩa là lần mới nhất, không phải là lần cuối cùng, tôi gặp Trương Vũ tại nhà của Trần Vũ, khi Trương Vũ ghé Quận Cam, trước khi anh bay lên Bắc California để thăm chị ruột của anh, họa sĩ Trương Thị Thịnh. Lúc đó là, có lẽ năm ngoái. Lúc đó, mối giao tình của Trương Vũ và tôi đã trải rộng từ hơn ba thập niên, từ những ngày tôi còn ở Miền Đông Hoa Kỳ. Thời xa xưa, tôi gọi anh bằng tên là anh Sơn, anh Trương Hồng Sơn, khi nhìn anh như một nhà khoa học. Và nhiều năm sau, khi đọc nhiều bài viết của anh trên Văn Học và Hợp Lưu, tôi gọi anh qua bút hiệu là Trương Vũ. Rồi vài năm gần đây là nhìn anh như họa sĩ. Thời gian đã cho anh hiển lộ qua nhiều tài năng, và với rất nhiều tóc bạc. Nhưng nụ cười của Trương Vũ vẫn hiền lành, đôi mắt vẫn tinh anh, cử chỉ và thái độ vẫn luôn là từ tốn, cẩn trọng, dịu dàng.
Trải qua gần bảy thập niên, từ cuối thập niên 1950’ đến nay, trong lãnh vực báo chí và văn chương, tên tuổi Trần Dạ Từ, Nhã Ca nổi bật, quen thuộc với giới báo chí, văn nghệ sỹ và độc giả từ miền Nam Việt Nam ở hải ngoại. Với nhiều bài viết về Trần Dạ Từ trên nhiều khía cạnh trong sự nghiệp và sáng tác nên nếu viết cũng là sự lặp lại, vì vậy trong bài viết nầy trích dẫn bạn văn, bạn tù đã sống gần gũi nhau đã viết về ông, nhất là bạn tù.
Ông Tri vung tay hất đổ chén canh, vỡ nhiều mảnh trên nền nhà, tung toé mùng tơi và tôm khô. Ông đưa tay lên lần thứ hai, muốn tát vào mặt con rể. Anh nắm tay ông lại. Lòng tung tóe giận dữ. Ánh mắt giết người làm ông sợ hãi. Rụt tay lại. Quay mặt vào vách. Anh hít một hơi đầy, thở mạnh ra. Xả cơn giận. Đứng lên đi dọn dẹp. Những mảnh chén vỡ làm anh nhớ lại lần đầu tiên khi anh đến nhà thăm Lài, ông Tri đã giận dữ đập vỡ tách trà vì không muốn con gái ông quen biết với người nhìn bề ngoài trông giống du đảng, tóc dài và ăn mặc không tiêu chuẩn.
Măc dầu câu kết của hai bài thơ của họ Thôi và ho Lý đều kết thúc bởi câu “sử nhân sầu” Nhưng cái buồn của họ Thôi, cái buồn của người hiểu thế sự. Cái buồn của họ Lý là cái buồn tích cực nhập thế. Họ Thôi thì nhớ về quê hương còn họ Lý thì nhớ thủ đô Tràng An. Như vậy xem ra mối sâu của Thôi Hiệu và của Lý Bạch không giống nhau. Hai bài thơ có những ưu điểm riêng, bổ túc cho nhau.
Bài thơ Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường vào đầu thế kỷ XIX của khuyết danh chỉ đề cập tổng quát, được đề cập nhiều (Sau nầy có bài thơ của Nguyễn Bính nhưng không có gọi tên phố phường). Tác phẩm Hà Nội 36 Phố Phường của nhà văn Thạch Lam (1910-1942) ấn hành năm 1943 được phổ biến rộng rãi, được mọi người biết đến nếp sống, sinh hoạt… của Hà Nội xa xưa.
Nhà thơ Đinh Hùng sinh ngày 3/7/1920, làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông. Ông là con út trong gia đình gồm sáu anh chị em: anh cả là Đinh Lân, các chị là Loan, Yến, Hồng, Oanh. Chị Đinh Thục Oanh lập gia đình với nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1915-1976). Đinh Hùng theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, rồi bậc trung học tại trường trường Bưởi, Hà Nội. Và sau khi đậu bằng Cao Đẳng Tiểu Học (Diplôme d’Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) thường gọi là bằng Thành Chung. Ông được học bổng tiếp tục đèn sách để thi Tú Tài bản xứ thì “Thần Ái tình đã hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn” (theo lời kể của ông anh rể Vũ Hoàng Chương), khiến ông bỏ ngang để đi viết văn, làm thơ. Năm 1943, ông xuất bản tập văn xuôi Đám Ma Tôi nhưng sau đó nổi tiếng với bài thơ Kỳ Nữ. Năm 1944, nhà thơ Vũ Hoàng Chương cưới bà Thục Oanh đưa về Nam Định sinh sống, ông ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài, và năm này, ông cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh về Thái Bình dạy học.
Cha anh, ông Thụ, là một người trung bình về mọi phương diện. Ưa thích quyền lực nhưng không thỏa mãn. Quyền lực mà ông có nhiều nhất là đối với vợ con. Đứa con trai duy nhất, “Em à, số vợ chồng mình thật xui. Có một đứa con mà nó lại sống ở trên mây.” _”Còn hơn nó chết à?” Thú vui lựa chọn của ông Thụ là tập bắn súng. Súng trường, súng lục, súng nào ông bắn cũng giỏi. Đã đoạt một số giải thưởng bắn thi. Và dĩ nhiên, ông muốn truyền tài năng này cho con trai. Năm 17 tuổi anh đã đoạt giải quán quân về tầm bắn xa 200 mét. Khi anh đeo dây huy chương trên cổ, tay cầm cái cúp giải thưởng, cha anh đã ôm anh thật chặt, Hơi nóng ấm áp chuyền qua làn áo vải. Ông đã tìm thấy ông và anh đã tìm thấy cha. Tính tình cha con anh có nhiều chuyện khác nhau, từ sở thích đến suy nghĩ. Khi còn nhỏ, anh không thích ăn thịt. Ông ăn thịt bò bíp-tết hai ngày mỗi tuần. Mỗi lần ăn, ông cắt thịt ra từng mảnh nhỏ, bắt anh hả miệng và đút vào. _”Nhai đi.” Cùng một cách ra lệnh, _”Nghĩ đi”, _”Làm đi”, _”Thở đi” _Số
Mẹ tôi, sinh nhật nào cũng bốn cây bạch lạp thắp sáng, năm nào bà cũng bốn mươi tuổi, không già hơn. Sinh nhật năm nay cũng vậy. Đàn cháu hát hăm hở Happy Birthday mừng bà nội. Mừng điều gì, tôi không biết. Sống lâu? Bà gần như không bao giờ chết. Xinh đẹp? Bà có bao giờ thay đổi đâu. Khỏe mạnh? Bà sẽ không bao giờ bệnh. Có lẽ con gái tôi biết được điều gì tôi không biết. “Chúc bà nội năm nay có tình yêu.” Cả đám con cháu cười vang kèm theo tiếng vỗ tay. Mẹ cười âu yếm. Trong căn phòng khách này, tôi là người già nhất và là người lạc hậu nhất.
LTS: Nhà văn Dương Nghiễm Mậu qua đời lúc 21 giờ 35 phút tối, giờ VN, ngày 2 tháng 8 năm 2016 (nhằm ngày 30 tháng 6 năm Bính Thân) tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi. Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại quê nội làng Mậu Hòa (quê ngoại làng Dương Liễu), huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Lập gia đình năm 1971, với Hồ Thị Ngọc Trang, giảng viên Anh ngữ. Sau 30/4/1975 bị bắt giam. 1977 đươc tạm tha. Từ 1977, học nghề sơn mài và sống bằng nghề này tại Sài Gòn. Từ 12 đến 18 tuổi sống ở Hà Nội. Học tiểu học ở trường Hàng Than, trung học, Chu Văn An, viết đoản văn, tùy bút cho báo trường và các báo có phụ trang văn nghệ học sinh. 1954 di cư vào Nam với gia đình, năm đầu ở Huế, năm sau ra Nha Trang, hè 1957 vào sống hẳn Sài Gòn. Từ 1957 trở đi Ông viết nhiều: tạp văn, tùy bút, đoản văn, truyện ngắn, truyện dài. Nhân ngày giỗ thứ tám, Việt Báo xin trích đăng lại nhà văn Dương Nghiễm Mậu từ tập “Tự Truyện Nguyễn Du”.
Tôi không khỏi bâng khuâng được tin Chị Võ Phiến, tên thật là Viễn Phố, phu nhân nhà văn Võ Phiến (1925-2015), đã qua đời ngày 24 tháng 7, 2024, hưởng thọ 94 tuổi. Trong số các bạn đời của các bạn văn của tôi, chị là người phối ngẫu tôi có dịp gần gũi hơn cả, từ khi anh còn sống và cả sau khi anh đã qua đời...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.