Hôm nay,  

Sông Hậu

11/07/202500:00:00(Xem: 2173)
 
download
Hình: Bìa cuốn tiểu thuyết ‘Thuyền’, NXB Phụ Nữ, 2025.)
 
Đêm sông Hậu, trăng khuyết chiếu mờ mặt sông, sóng ì ọp vỗ mạn thuyền. Đôi khi một bầy chim ăn đêm bay qua sát đầu chúng tôi, cánh chúng xòe ra trong trăng. Đôi khi những con dơi bay chập choạng trong tối như những linh hồn người chết trở lại thăm bạn cũ. Chúng tôi thì thào vào tai nhau những câu chuyện nghe được từ dân làm nghề sông nước. Có lúc sự kiểm soát không gay gắt lắm, chúng tôi được phép lên sàn thuyền ngồi hóng gió. Đôi khi một chiếc ghe nhỏ đi ngang qua, ông chủ thuyền kêu lại mua thêm thức ăn. Không khí ngày tết rộn ràng, tiếng hò trên sông, tiếng máy thuyền, tiếng mua bán nói cười ầm ĩ vọng lại từ một đời sống nửa thực nửa mơ. Một người phụ nữ ngồi trên thuyền vá lại chiếc áo rách cho chồng, như thể chị đang ngồi trong một căn bếp ở thôn xóm an bình nào đó. Liên Hương bóc cho tôi những múi cam còn lại. Một người đàn ông đấm bóp cho một người bạn già đau lưng. Một người kể chuyện những kỷ niệm ăn tết ngày trước. Mùi hoa lài thơm nức trên sàn thuyền, nhìn đi nhìn lại không thấy hoa đâu, có lẽ một luồng gió mang lại từ căn nhà nhỏ trên bờ, bụi hoa mới nở không có ai thưởng thức. Những giờ phút đẹp đẽ, đêm trăng hạ huyền trong lành như được quê hương ban cho lần cuối, nhắc thuở vàng son yêu dấu. Nhiều năm qua, tôi chỉ còn giữ trong lòng đôi ba ký ức của tiếng sóng vỗ, giọng hò mặt sông, trẻ con cười và khóc, hình ảnh người đàn bà ngồi khâu áo cho chồng trên sàn thuyền, mùi lài bay sực nức trong gió.

Nước chảy cuồn cuộn, nhiều nơi sóng dâng cao, chiếu lấp lánh ánh đèn từ bờ sông. Gió mát thổi rào rào mặt nước, thuyền trôi lặng lẽ như một con kình ngư, đen ngòm, mất phương hướng. Tôi nghe tiếng nhạc vọng lại từ quán xá nào đó trên bờ. Càng về khuya, gió càng mạnh, chỉ có vài thanh niên đi lại trên sàn, tôi cố leo lên để hít thở không khí trong lành, bị đuổi xuống khi qua trạm kiểm soát. Những bước chân của lính gác giẫm mạnh trên sàn thuyền, ngay trên đầu chúng tôi, tiếng hỏi, tiếng cười nói, tiếng lên đạn lịch kịch. Con thuyền đi mãi trong đêm, tiếng máy nổ bị che khuất bởi tiếng sóng càng lúc càng lớn đập rầm rầm vào mạn. Trước mặt tôi một cặp tình nhân ngồi dựa vào lòng thuyền ôm chặt lấy nhau. Trên đầu chúng tôi vầng trăng bắt đầu lên, tôi nhận ra đó là những ngày xuân mới tới, ánh trăng và vài ngôi sao chiếu rọi mặt sông, gió thổi ù ù bên tai, tiếng một con chim đi ăn đêm về muộn hót ngang trời, vang đi trên mặt sông, như lời từ giã.

Anh cầm lấy tay em, anh tìm thấy ở đó sức mạnh và sự an ủi.

Tôi quay nhìn lại. Cần Thơ nằm bên hữu ngạn sông Hậu, ánh điện chiếu sáng góc trời. Thoạt kỳ thủy, có một dòng sông, dòng sông chia làm hai nhánh, sông Tiền và sông Hậu, hai con sông làm nên vùng châu thổ rộng lớn mênh mông trù phú. Chúng ta càng hạnh phúc, càng đi về phía dòng sông. Đi về phía dòng sông để tìm lại cội nguồn. Đi về phía dòng sông để tìm lại tự do đánh mất. Sự vật không bao giờ tới chỗ cùng tận, tận cùng thì lại bắt đầu, suy cực lại thành, thịnh cực phải suy.

Đi hết một vòng không lầm lỗi. Em có sợ không?

Em sợ.

Đừng sợ. Chúng ta sẽ không chết.

Chúng ta có bị bắt không?

Không. Chúng ta thoát.

Chúng ta không chết chứ?

Không.

Anh sẽ không xa em nữa?

Không.

Giờ đây chúng tôi nói ít, suy nghĩ sâu hơn về con đường trước mặt. Những cuộc đối thoại nông cạn cũng tựa như tình yêu nông cạn, như cuộc tán gẫu khi bạn ngồi chờ xe buýt với người lạ. Bạn dừng lại ở những nhận xét về thời tiết nắng mưa, những câu hỏi ai cũng có thể trả lời, và trong khi trò chuyện bạn nhìn về phía khác, phía chiếc xe buýt sắp tới. Cũng vậy trong cuộc đời, những mối quan hệ nông cạn, những tình yêu không đủ sâu sắc, không thể mang lại những cuộc đối thoại sâu sắc. Một người mở trái tim ra như một căn phòng mở cửa, bạn đi vào, sâu hơn, xa hơn, thân mật hơn. Vì thế, bạn phải bỏ lại sau lưng nhiều thứ, để gặp được nhiều thứ khác. Không có một lời hứa nào cả. Tự do cũng vậy, đó là một chọn lựa. Tôi tin mọi chuyện rồi ổn thỏa cả. Cuộc lữ bắt đầu. Không có gì đáng sợ nữa.

Thời tiết êm ả. Những ngày bị săn đuổi, bắt giữ đã qua. Tôi nắm chặt tay Liên Hương. Tay nàng ấm ướt, để yên trong tay tôi. Những ngày sợ hãi và lo lắng làm cả hai chúng tôi kiệt sức, nếu không được lên thuyền lớn hôm nay chúng tôi sẽ ngã gục. Trong những kênh rạch miền Nam, thuyền có nhiều loại, nhiều cỡ tùy theo địa thế sông nước. Xuồng ba lá là do ba miếng gỗ ghép lại, lướt nhanh, vì đáy thuyền phẳng, nổi gần mặt nước. Có thuyền chèo tay, có thuyền lắp máy. Ghe tam bản thường có mui, dài và rộng. Ghe bầu lớn hơn có thể đi trên sông lớn, rẽ nước mạnh. Ghe chài rất lớn, lòng thuyền làm chỗ nghỉ ngơi, sàn thuyền có mui che mưa nắng. Bánh lái thuyền nằm ở đằng sau. Ghe thuyền lớn có ca bin buồng lái, người tài công ngồi sau bánh lái. Thuyền của chúng tôi khá lớn, gần ba mét bề ngang, mười mét bề dài, chứa được hơn năm mươi người, nhưng số người nó mang đi là gấp ba. Khoang thuyền chia làm nhiều ngăn, mũi thuyền, lòng thuyền, đuôi thuyền có máy, các dụng cụ như mỏ neo, dây neo, dầu mỡ, trang thiết bị của máy. Chỗ người thợ máy ngồi ngay dưới chỗ người tài công. Có một lỗ trống giữa sàn thuyền với cầu thang vịn trèo lên trèo xuống. Vì chân vịt để trần, một thanh niên vô ý rơi xuống nước, bèo quấn vào chân vịt, đứt ngang một bàn tay.

Bàn tay nào, phải hay trái?

Cuộc ra đi này, khóc ra máu đầm đìa.

Con người trì hoãn cái chết bằng sự khốn khổ.

Tôi nhìn thấy tất cả, không để sót một điều gì, trừ một vầng trăng mỏng mảnh cuối trời, lẩn lút như câu hỏi. Tập thở. Tập thở như tôi vừa đến bầu khí quyển khác. Thở bằng mũi, thở bằng miệng, thở có ý thức. Thở bụng. Cảm nhận hết mùi hôi trong khoang thuyền, mồ hôi người, mùi nôn mửa, mùi nước tiểu, mùi sợ hãi. Tâm trí tôi mờ đi, đưa tay lên dụi mắt, nó sáng lại, được một lúc lại âm u mờ mịt.

Bỗng nhiên em muốn về nhà, Liên Hương nói.

Sao em nghĩ vậy?

Em không biết.

Em đói phải không?

Không.

Em sợ?

Em không biết. Em muốn đầu hàng. Em không nhìn thấy con đường đi của mình.

Em lầm rồi. Chúng ta đã xuống thuyền lớn. Đang ở trên sông. Chúng ta sẽ ra biển.

Em biết.

Nhưng chúng ta là ai? Liên Hương nhìn tôi từ trong bóng tối, ánh mắt của nàng sáng lên, buồn bã.

Chúng ta là những người ra đi. Và sẽ đến.

Liên Hương gật đầu. Có một lúc trong khoang thuyền tối om từ một khoảng cách khá xa tôi nhìn thấy Liên Hương mỉm cười. Trong suốt chuyến đi, đó là lần đầu tiên nàng mỉm cười. Nụ cười rạng rỡ sáng lên trong tối.

Đúng là tôi đã nhìn thấy như thế, phải không?

Hay là ảo giác?

Nhiều năm sau, tôi nói: em, anh đã tìm thấy con đường của chúng ta. Liên Hương nhắm mắt lại. Nàng bao giờ cũng tin vào lời nói của tôi, vào những điều mà tôi tin tưởng. Không một câu chuyện nào tôi kể lại chỉ là kể về tôi. Những người lắng nghe sẽ nhớ lại cuộc đời của chính họ. Chỗ ngồi của tôi ở ngay mũi thuyền, phía trên có lỗ nhỏ thông hơi từ đó có thể nhìn ra ngoài, quan sát trong góc hẹp. Tôi nghe được nhiều chuyện, nhìn thấy chúng. Tôi không cố tình chọn chỗ ấy, chẳng qua vì mọi người xô qua đẩy lại, giành chỗ nằm tiện lợi, người nào yếu đuối như người già, trẻ con đi một mình, người không muốn chen lấn, sẽ bị đẩy ra gần phía khu vực mũi thuyền, nơi bị sóng đánh, dễ nôn ói. Sau một lúc, tôi nhận ra thùng sắt lớn, mới đầu người dùng thứ cầu tiêu dã chiến này ngồi trơ ra trước mắt mọi người, về sau có người buộc tấm màn kéo lại, vậy chỗ tôi nằm sát với cái thùng cầu tiêu, cách nó một tấm màn, đầu gối lên nó, tai nghe tiếng động của người sử dụng, mắt nhìn thấy bóng mờ mờ, âm thanh khó chịu. Ngày thứ nhất, tôi hoàn toàn không ngủ được. Ngày thứ hai, lợm giọng, buồn ói, suốt ngày nhắm mắt, nhắm mắt thì không nhìn nhưng mũi vẫn ngửi, tai vẫn nghe. Sang ngày thứ ba tôi bắt đầu quen thuộc, không cần nín thở. Dù sao người ta cũng không thể nín thở hàng giờ được, tôi đứng lên, đầu chạm vừa khéo vào trần gỗ, mắt đặt vào cái lỗ nhìn ra ngoài, nhờ ngắm cảnh vật trên sông nước, trên bờ, mà tôi nguôi ngoai nỗi bực mình. Trên thuyền có lẽ trừ viên tài công ngồi ở bánh lái đằng sau, không còn ai có chỗ ngồi như tôi, mọi người mù điếc trong năm ngày trên sông. Về sau tôi biết khi ra đến gần cửa biển thì ghe chúng tôi không thể qua trạm gác cuối cùng, phải quay đầu đi ngược về phía tây, nhưng cũng nhờ thế mà những ngày trên sông, tâm trí để trôi theo những đám lục bình, tôi đã được nhìn thấy đàn sếu bay qua mịt mờ khói sóng, nghe tiếng kêu buồn buồn của chúng, nhìn người chài lưới tung lưới trên mặt nước, những đàn cá tung tăng ánh bạc đẹp mê người. Tôi nghe tiếng hò trên sông của những cô gái chèo thuyền, cảnh trời chiều tối mênh mông buồn bã, như ngày xưa tiền nhân đi mở nước. Trời nóng, hơi người dội hầm hập trong khoang thuyền, giấc ngủ chập chờn, buổi sáng mai thức dậy quên mình ở đâu, muỗi vo ve, ruồi bắt đầu bay đi bay lại trên thùng cầu tiêu, bám vào mặt khi tôi ngủ, những con ruồi nhặng to bằng đầu ngón tay út trẻ con. Một lần nghe tiếng đờn kìm của con thuyền đi chơi khuya. Tôi ngửi thấy mùi cà phê thơm lừng mặt nước. Đó là lúc gần tới sáng, trăng bạc màu chập chờn như cái dĩa bị vỡ, tôi mệt quá ngủ thiếp đi, lại thức dậy, tay chân ngứa ngáy, người nổi ban đỏ. Mùi cà phê làm tôi quên hết. Sau những ngày bất động trong bóng tối, người già suy kiệt, trẻ con bị tiêu chảy, nhiều người ho, nóng sốt, tôi biết nếu tình cảnh kéo dài vài hôm nữa, sẽ hoảng loạn. Trên bờ, tiếng chợ búa tiếng cười nói, trên sông tiếng máy nổ xình xịch của thuyền bè, sự lãnh đạm của con người, vẻ đẹp của sông nước giờ đây tất cả như cành phù dung héo rũ. Trời nóng, đốt cháy mặt nước, dội hầm hập vào khoang thuyền, vào giấc ngủ chập chờn, thổi vào giấc mơ thành ác mộng, buổi sáng mai thức dậy quên cả mình ở đâu. Nhai bánh mì cứng như đá hay gói cơm nguội trong bóng tối. Chia nhau hớp nước. Thì thào. Tiếng súng ai bắn vu vơ trên đầu. Tiếng búa nện vào đinh. Một đứa trẻ khóc. Một người phụ nữ ói vọt ra, mùi chua đến nghẹt thở. Tôi kéo Liên Hương lại gần, ôm lấy nàng, thương xót. Tôi cảm thấy hối hận. Nước chảy mà chưa thể thông đi. Trong trạng thái kỳ ảo, nửa mơ nửa tỉnh, tôi nghe thấy một tiếng động rất nhỏ từ xa. Tôi mở mắt nhìn quanh, mọi người đều ngủ cả. Tôi nhắm mắt lại một lúc lại nghe thấy tiếng động. Thoạt đầu như một giọt sương rơi xuống trên lá, lát sau như tiếng bước chân, lát sau như tiếng gió. Cảm giác ấy làm tôi sung sướng lạ thường, tựa như tôi không còn hiện hữu, tưởng như tôi đã qua một thế giới khác, cũng hiện hữu nhưng theo một cách khác, cuối cùng tôi nghe được tiếng hát ấy. Bây giờ càng lúc càng nghe rõ. Tôi nhắm mắt lại, sung sướng tưởng có thể chết đi được. Tiếng một người ca kỹ đi chơi về khuya cất giọng hát trên sông.

Nguyễn Đức Tùng

(Trích Thuyền, tiểu thuyết, NXB Phụ Nữ, 2025.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Phát thanh viên Nhã Lan của kênh truyền hình Hồn Việt TV (Orange County, CA) nói chuyện với nhà văn / nhà thơ Trịnh Y Thư về văn chương và các điều khác...
Tác phẩm Drei Kameraden (Three Comrades) năm 1936 của văn hào Đức, Erich Maria Remarque (1898-1970) Tâm Nguyễn dịch với tựa đề Chiến Hữu, nhà xuất bản Kinh Thi ấn hành năm 1972, gồm 28 chương dày bảy trăm trang. Đệ Nhất Thế Chiến, Remarque ở tuổi 19, bị động viên vào Quân Đội Hoàng Gia Đức, thuyên chuyển về Mặt Trận Miền Tây (The Western Front), bị thương vì các mảnh đạn bắn vào chân trái, tay phải và vào cổ, nên được tản thương về bệnh viện, điều trị cho đến khi chiến tranh kết thúc rồi được giải ngũ khỏi Quân Đội Đức. Sau khi chiến tranh chấm dứt Remarque bị ám ảnh bởi các cảnh tàn phá của chiến tranh, thân phận con người, người lính trong và sau giai đoạn bi thương của lịch sử.
Nguyễn Du là tác giả của “Truyện Kiều” và nhà văn người Đức Johann Wolfgang von Goethe là tác giả kịch thơ “Faust”. Nguyễn Du được người Việt kính trọng tôn xưng là "Đại thi hào" và được UNESCO vinh danh là “Danh nhân văn hóa thế giới” vào năm 2013 cùng 107 danh nhân khác. Nếu người Việt tự hào về Nguyễn Du thì người Đức cũng rất tự hào về nhà văn lớn của họ là Goethe. Theo Viện Nghiên cứu xã hội và phân tích thống kê Đức (Forsa), Geothe được xếp đứng hàng đầu trong danh sách „Những người Đức vĩ đại nhất mọi thời đại“ [1]. Sau đó mới đến vị thủ tướng đầu tiên của Cộng Hòa Liên Bang Đức là Konrad Adenauer (1876-1967) đứng hạng nhì và đứng hạng thứ ba lại là nhà khoa học gia Albert Einstein (1879-1955), cha đẻ của Thuyết tương đối.
Với tài năng hội họa, văn, thơ, và nhất là tấm lòng và ý chí bền bỉ với văn học nghệ thuật, Khánh Trường đã chinh phục một số lượng độc giả và giới thưởng ngoạn nghệ thuật lớn, từ hải ngoại về đến trong nước, từ nhiều thập niên qua, và có lẽ Ông sẽ mãi được nhớ đến trong văn sử Việt là người khai phóng một nền văn học hậu chiến ở hải ngoại và trong nước qua tờ báo văn học Hợp Lưu. Sau ba cơn tai biến Ông đã phải mang nhiều bệnh tật, nhưng sự ra đi của ông vào cuối năm 29 tháng 12, 2024 vừa qua vẫn gây bàng hoàng đối với những người thân yêu và mến mộ ông. Nỗi niềm thương tiếc này được biểu hiện bằng đôi lời chia biệt với ông và gia đình từ khắp nơi. Việt Báo trích đăng lại.
Như anh có lần tâm sự, thủa 13, anh đã bỏ quê nhà Quảng Nam, lên Đà Lạt, sống đời lang bạt, ăn bờ ngủ bụi, thậm chí “biết tình yêu gái điếm” dù còn non choẹt. Rồi anh xuống Sài Gòn, không muốn tiếp tục làm du đãng, anh đăng lính, dù chưa đủ tuổi. Có sao đâu, chiến tranh đang lên cao điểm mà, quân đội cần lính, nhất là lính Dù, những người lỳ lợm, can đảm, tự nguyện. Những năm chiến trận, đúng châm ngôn “Nhẩy Dù cố gắng”, anh sống trọn với đồng đội, với màu cờ sắc áo. Bị thương nhiều lần, anh buộc phải giải ngũ. Đời sống dân sự chưa được bao lâu thì “xẩy đàn tan nghé”, ngày 30 Tháng Tư 75, anh bị “bên thắng cuộc” liệt vào hàng ngũ “bên thua cuộc”. Vì là cấp hạ sĩ quan, anh không chịu chung số phận như hàng trăm ngàn sĩ quan, công chức, bị đầy đọa nhiều năm tháng trong các trại tù mà chế độ mới gọi bằng mỹ từ “cải tạo”. Nhưng anh vẫn bị nghi kỵ, bị phân biệt đối xử ngay chính trên quê hương mình.
Chúng tôi quen nhau bắt đầu bằng một… thùng sách...
Giữa mình và Khánh Trường có chút tình văn nghệ tuy thỉnh thoảng mới gặp nhau. Nay Khánh Trường vừa ra đi xin đăng lại một bài viết về Trăng Thiền cách đây cũng đã mươi năm nhân Khánh Trường triển lãm một loạt tranh mới chủ đề là Đáo Bỉ Ngạn và có gởi cho Nguyễn hình chụp một số bức để đưa lên Phố Văn. Xin mời bạn đọc theo dõi bài viết.
Thật ra, trước 1975, tôi cũng đã đọc nhiều sách, nhiều tạp san văn học ở Sài Gòn, (hay tỉnh lẻ), tôi chưa đọc đến tên Khánh trường, biết tên Khánh Trường. Tên đó (hay bút danh đó) hoàn toàn xa lạ đối với tôi.
Bạn hãy giữ lòng cho thật vui để ra đi. Trang sách cuối của Hợp Lưu bây giờ đã khép lại. Tay của bạn đã thả rơi ngòi bút và cọ màu. Bạn đã nằm xuống sau một đời lặn lội. Hãy gối đầu lên những kệ sách ký ức. Đã tới lúc bạn hãy buông xả hết, để tự thấy đời mình trôi theo dòng sông chữ nghĩa, nơi đã chép xuống những gì đẹp nhất của thế hệ chúng ta. Bạn hãy giữ lòng cho thật vui để ra đi. Cuộc đời luôn luôn là những bước ra đi. Bạn không có gì để nuối tiếc trong đời này. Bạn đã tự vắt kiệt máu trong tim ra để làm sơn cho tranh vẽ và để làm mực cho những trang báo. Nơi đó là ước mơ của yêu thương và hòa giải. Nơi đó là sự ngây thơ nghệ sĩ mà chúng ta đã đem tặng cho đời.
Khoảng thời gian bắt đầu vào đại học, ngoài những lúc phải học những bài sinh hóa khô khan, tôi tìm đến văn chương tiếng Việt qua các tạp chí như Văn Học, Văn, và Hợp Lưu. Khác với Văn và Văn Học vốn mang không khí “cổ điển”, Hợp Lưu, với chủ biên sáng lập là nhà văn Khánh Trường, bung mở một cánh cửa đón nhiều cây bút mang phong cách táo bạo, thể nghiệm, trong cả hai lãnh vực thơ và văn, đến từ trong và ngoài Việt Nam. Gặp nhiều chống đối vào những năm đầu vì có sự góp mặt của những nhà văn trong nước, nhưng Khánh Trường vẫn bất chấp, tiếp tục xây dựng Hợp Lưu thành một diễn đàn văn chương mở rộng vì “các thể chế chính trị rồi sẽ qua đi, nhưng văn học nghệ thuật sẽ còn tồn tại dài lâu, nhiệm vụ của chúng ta hôm nay là phải tìm cách bảo tồn, xiển dương những giá trị kia, không phân biệt phe phái, chính kiến.” (trả lời phỏng vấn của Đỗ Lê Anh Đào trên damau.org, ngày 22 tháng 9, 2006).


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.