Hôm nay,  

Văn Học Thiền

10/04/202600:00:00(Xem: 216)

Van Hoc Thien 01

Ngọn tháp của Thanh Thủy Tự (Kiyomizu-dera) tại Kyoto, Nhật Bản. (Photo: www.pixabay.com

 
Tại sao không phải là văn học Phật Giáo mà là văn học Thiền? Văn học Thiền có gì khác với văn học Phật Giáo?

Đó là những câu hỏi khó tránh khỏi với những độc giả chưa làm quen với nền văn học Phật Giáo nói chung.

Một cách ngắn gọn, văn học Thiền cũng là một bộ phận trong nền văn học Phật Giáo tổng thể, vì Thiền là một trong những pháp môn tu tập của Phật Giáo, mà khi đến Trung Hoa nó trở thành một tông phái lớn, Thiền Tông, rất thịnh hành vào thời nhà Đường (618-907 TL). Nhưng, mặt khác, văn học Thiền cũng có những đặc điểm và độc đáo mà văn học Phật Giáo nói chung không có. Về vấn đề này, chúng ta sẽ đề cập đến kỹ hơn trong phần sau.
 
Thiền
 
Tuy nhiên, nói Thiền thì đó là nói tổng quát, còn nếu nói chi tiết thì Thiền không phải chỉ cho một pháp môn duy nhất mà hàm chứa nhiều pháp môn hay nhiều cách tu tập khác nhau. Nói đến Thiền có thể nói đến Thiền Định và Thiền.

Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1), thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau.

Nhưng, Thiền còn có một ý nghĩa khác. Đó là khi nói đến Thiền, ngày nay, người ta nghĩ ngay đến Thiền đốn ngộ do Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma) từ Ấn Độ truyền vào Trung Hoa vào thời nhà Lương (502-557 TL). Dòng Thiền này truyền tới đời thứ 6 là Lục Tổ Huệ Năng (638-713 TL) thì phát triển thành 5 dòng Thiền lớn: Lâm Tế, Quy Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn, và Pháp Nhãn. Thiền phái Lâm Tế và Tào Động đã được truyền vào Việt Nam và cho đến ngày nay vẫn còn.

Thiền đốn ngộ chủ trương không dựa vào kinh điển, chữ nghĩa để giác ngộ mà bằng cách nhìn thẳng vào tâm để thấy tánh, tức thấy “bản lai diện mục” (mặt mũi xưa nay, tức bản tâm hay chân tâm) của mình. Đó là tông chỉ: Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật (không dựa văn tự, truyền ngoài giáo nghĩa, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật).

Theo tông chỉ đó, Thiền, hay Zen theo tiếng Nhật và Chan theo tiếng Trung Hoa, có tinh thần khai phóng, giải thoát, không chấp vào khuôn thước nào cố định, mà ứng xử linh hoạt, không để tâm trụ ở bất cứ đâu (ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm), thong dong tự tại. Đây chính là nguồn suối sáng tạo của văn học Thiền. Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ đã viết rằng, “Nhưng, chính cái cảm hứng bàng bạc từ đầu đến cuối tác phẩm mới tạo cho nó một kích thước rộng rãi, một sức hàm chứa vô biên. Lẽ cố nhiên, cảm hứng thì không thể bị điều động bởi bất cứ ý tưởng nào, mà bộc phát với một thế giới kỳ diệu đột nhiên xuất hiện. Một cách khác, chúng ta nói rằng, tất cả các tác phẩm của văn học Phật giáo đều cố gắng cắm sâu gốc rễ vào tánh Không.”(2)

Tánh Không là giáo nghĩa tinh túy của các Kinh Bát-nhã Ba-la-mật. Theo đó, tất cả các pháp đều do duyên mà sinh và cũng do duyên mà diệt, không có một pháp nào tồn tại mà không nhờ các duyên, cho nên sự hiện hữu của chúng chỉ là tạm bợ, là giả hợp, là không. Khi thâm ngộ được điều này thì tâm và trí sẽ mở ra trong sáng và rỗng lặng để phản chiếu lên đó tất cả mọi sự mọi vật một cách trung thực. Đây cũng là nguồn mạch sáng tạo của văn học Thiền.
 
Văn học Thiền
 
Chủ trương của Thiền không dựa vào kinh điển hay giáo thuyết không phải là lập trường chống lại những lời dạy của đức Phật còn lưu giữ trong ba tạng Kinh, Luật, và Luận. Thiền chủ trương “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” là bởi vì chân lý tối hậu hay bản tâm thì không nằm trong văn tự và bản thân chữ nghĩa cũng không thể diễn bày được chân thân của thực tại tối hậu. Nếu dựa vào, hay cố bám chấp vào giáo nghĩa thì chẳng khác nào xem ngón tay là mặt trăng thật, hay nương thuyền qua sông rồi cứ mang thuyền để lên bờ. Nhìn thẳng vào mặt trăng mà không cần ngón tay chính là chủ trương “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” của Thiền vậy.
 
Kinh điển truyền thừa
 
Đó chính là lý do tại sao Thiền vẫn lấy Kinh làm tín vật để truyền thừa. Thiền tông Trung Hoa từ thời Tổ Bồ-đề-đạt-ma đến Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đã lấy Kinh Nhập Lăng-già (Lankavatara Sutra) để làm tín vật truyền thừa. Đến đời Lục Tổ Huệ Năng về sau thì lấy Kinh Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật (Vajracchedikā Prajñāpāramitā Sūtra) là tín vật trao truyền.

Giáo Sư Albert Welter xác chứng điều này rằng, “[Chủ trương bất lập văn tự của Thiền] … không phải bác bỏ những lời dạy của đức Phật được lưu giữ trong Kinh tạng hay các chú giải giáo lý của những vị cao tăng, mà là sự cảnh báo đối với những ai bị nhầm lẫn về mối quan hệ giữa giáo thuyết Phật dạy như là sự chỉ dẫn đến chân lý và nhầm tưởng nó chính là chân lý.”(3)

Thiền Sư Nhật Bản Bạch Ẩn Huệ Hạc (Hakuin Ekaku – 1686-1769 TL) nói rằng, “Một người trước hết phải có được kiến thức rộng rãi, tích lũy kho tàng trí tuệ qua việc học hỏi tất cả các kinh điển và luận giải Phật Giáo, đọc tất cả các sách Phật Giáo và không phải Phật Giáo và nghiên cứu các tác phẩm của những nhà thông thái của các truyền thống khác. Vì lý do đó mà có lời nguyện rằng “Phật Pháp là vô tận, tôi xin nguyện học hỏi tất cả.”(4)

Ngoài Kinh Lăng-già và Kinh Kim Cang được chính thức truyền thừa trong Thiền tông và được xem là văn bản chính thống của văn học Thiền, còn có các Kinh khác như Kinh Duy-ma-cật (Vimalakirti Sutra), Kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka Sutra). Trong Kinh Duy-ma-cật có đoạn kể rằng Bồ-tát Duy-ma-cật đề nghị tất cả các bồ-tát có mặt nói ra suy nghĩ của mình về pháp bất nhị để đại chúng cùng chia sẻ. Sau khi mọi người đều nói xong, Bồ-tát Văn-thù (Manjusri) yêu cầu ngài Duy-ma-cật nói về chỗ tu chứng của mình, nhưng Duy-ma-cật đã im lặng không trả lời. Tuy thế, ngài Văn-thù lại khen: “Lành thay, lành thay! Cho đến không còn văn tự và ngôn thuyết, ấy mới thật là vào cửa pháp bất nhị.”(5)

Theo Heinrich Dumoulin (6), sự im lặng của ngài Duy-ma-cật đã trở thành mẫu mực cho truyền thống Thiền. Vì thế, tất cả các thiền sư luôn không muốn diễn bày sự giác ngộ, trạng thái bất nhị, qua ngôn ngữ hay dấu hiệu.

Tư tưởng nền tảng của Kinh Hoa Nghiêm là sự thống nhất của tuyệt đối và tương đối (chân đế và tục đế). Một là tất cả và tất cả là một. Trong một có tất cả và trong tất cả có một. Hoa Nghiêm Tông có ảnh hưởng sâu sắc đến Thiền. Ngài Tông Mật (Tsung-mi, 780–841), tổ thứ năm của Hoa Nghiêm Tông, cũng chiếm vị trí quan trọng trong lịch sử Thiền. Trong thời nhà Tống, giáo nghĩa của Hoa Nghiêm đã được Thiền Tông tiếp thu hoàn toàn, theo Heinrich Dumoulin.

Văn học Thiền còn có các tác phẩm khác do các thiền sư và những văn nghệ sĩ chịu ảnh hưởng của Thiền viết ra. Trong đó, chúng ta có thể kể đến các ngữ lục, các tuyển chọn công án và thi ca.

Van Hoc Thien 02

“Hồ tâm lặng chiếu nguyệt thanh bình,” câu thơ cuối trong bài Tâm Nguyệt của Thiền Sư Nhất Hạnh.(Photo: www.pixabay.com

 
Ngữ lục và Công Án
 
Ngữ lục là các tác phẩm ghi lại những hành trạng và lời dạy của các thiền sư, thường là do những môn đệ của các thiền sư viết lại và vì vậy, thời gian có thể kéo dài nhiều năm tháng. Các tuyển chọn công án là những tác phẩm chép lại các công án được các thiền sư dạy cho các thiền sinh quán để kiến tánh, vì thế các tác phẩm sưu tập công án cũng kéo dài qua nhiều đời các thiền sư. Ở đây xin kể ra một số ngữ lục và tuyển tập công án tiêu biểu, dĩ nhiên là không làm sao kể hết vì ngoài khả năng sưu tập của người viết bài này.

- Pháp Bảo Đàn Kinh: Do các đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng ghi chép lại những lời dạy của Lục Tổ Huệ Năng (638-713) và xuất hiện vào thế kỷ thứ 8. Pháp Bảo Đàn Kinh giải thích sâu rộng nhiều kinh, như Kinh Kim Cang, Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Lăng Già, và Kinh Đại Bát-niết-bàn, theo John McRae.(7) Điểm đặc biệt ở đây là lời dạy của Lục Tổ được gọi là Kinh, trong khi Kinh là do đức Phật dạy hay chư vị đệ tử thời Phật nói ra và được đức Phật ấn chứng.

- Triệu Châu Ngữ Lục: Ghi lại những lời dạy của Thiền Sư Triệu Châu (778-897).

- Động Sơn Lương Giới Ngữ Lục: Ghi lại những lời dạy của Thiền Sư Động Sơn Lương Giới (807-869).

- Ngưỡng Sơn Ngữ Lục: Ghi lại những lời dạy của Thiền Sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (807-883).

- Truyền Đăng Lục hay Cảnh Đức Truyền Đăng Lục: Do Thiền Sư Đạo Nguyên biên soạn vào năm Cảnh Đức, đời Tống (1004). Trong đó kể sự truyền thừa của chư tổ cho đến Thiền Sư Pháp Nhãn (885-958), theo https://vi.wikipedia.org.

- Lâm Tế Ngữ Lục: Tên đủ là Trấn Châu Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục (8), ghi lại những vấn đáp của Thiền Sư Lâm Tế, được xuất bản vào năm 1120.


-Thiên Thánh Quảng Đăng Lục: Được biên soạn bởi vị quan có tên Lý Đạo Húc (988-1038), viết về Thiền Sư Lâm Tế.

- Tứ Gia Ngữ Lục: Được biên soạn bởi Hoàng Long Huệ Nam (1002-1069), viết về 4 thiền sư: Mã Tổ Đạo Nhất (709-788), Bách Trượng Hoài Hải (720-814), Hoàng Bá Hy Vận (tịch năm 850), và Lâm Tế Nghĩa Huyền (tịch năm 866/867).(9)

- Thiền Quan Sách Tấn: Do Thiền Sư Châu Hoằng (1535–1615) tại Trung Quốc, sưu tập những lời tường thuật của các thiền sư về sự tham học và tu chứng trong bộ sách Thiền Môn Phật Tổ Cương Mục và Ngũ Đăng Chư Ngữ Lục.(10)

- Vô Môn Quan: Sưu tập 48 công án và những lời bình được Thiền Sư Vô Môn (1183-1260) ấn hành vào năm 1228.

- Bích Nham Lục: Sưu tập 100 công án do Thiền Sư Viên Ngộ Khắc Cần (1063-1135) biên soạn.

- Đan Hà Tử Thuần Thiền Sư Ngữ Lục: Cũng gọi là Tùy Châu Đại Hồng Sơn Thuần Thiền Sư Ngữ Lục, Diệu Tục Đại Sư Ngữ Lục, do Thiền Sư Đan Hà Tử Thuần (1064 - 1117) soạn vào đời Tống.

- Chỉ Nguyệt Lục: Còn gọi là Thủy Nguyệt Trai Chỉ Nguyệt Lục, do vị quan đời nhà Minh tên là Cù Nhữ Tắc soạn đời nhà Minh, trong đó sơ lượt tiểu sử và những lời dạy của bảy vị Phật quá khứ và chư tổ sư Thiền từ Ấn Độ đến Trung Hoa cho đến thời Đại Huệ thiền sư (1088-1163), được ấn hành năm 1601.(11)

- Thiền Thất Khai Thị Lục: Ghi lại những lời dạy trong các kỳ tu Thiền thất của Thiền Sư Lai Quả (1881-1953).

- Chánh Pháp Nhãn Tạng (Shōbōgenzō): Do Thiền Sư Đạo Nguyên (1200-1253) là tổ khai sơn Thiền phái Tào Động tại Nhật Bản biên tập các công án Thiền.

- Thiền Tông Tứ Bộ Lục (Zenshū Shiburoku): Được phổ biến tại Nhật Bản, sưu tập bốn văn bản Thiền, gồm Thập Mục Ngưu Đồ của Thiền Sư Quách Am, Tín Tâm Minh của Tam Tổ Tăng Xán, Chứng Đạo Ca của Thiền Sư Huyền Giác, và Tọa Thiền Nghi của Thiền Sư Đạo Nguyên.

- Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục: Còn có tên khác là Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục, Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng, Thiền Uyển Truyền Đăng Lục. Viết về các thiền sư từ cuối thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 13. Tác giả là Thiền Sư Kim Sơn ở Hải Dương, Bắc Việt Nam.(12)

- Khóa Hư Lục: Do Vua Trần Thái Tông (1218-1277), sáng lập nhà Trần tại Việt Nam (1226-1400) viết.

- Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục: Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291). Ông là thầy của Vua Trần Nhân Tông, người sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm tại Việt Nam. Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục do Vua Trần Nhân Tông ghi lại những lời dạy và thơ văn của ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ.

- Tam Tổ Thực Lục: Do Thiền Sư Tính Quảng và Thiền Sư Hải Lượng biên soạn vào năm 1765. Nội dung là tập hợp các tài liệu và bi ký liên quan đến 3 vị tổ của Thiền Phái Trúc Lâm tại Việt Nam là Điều Ngự Giác Hoàng (Trần Nhân Tông), Thiền Sư Pháp Loa và Thiền Sư Huyền Quang.(13)

- Thánh Đăng Lục: Kể về hành trạng tu tập và chứng ngộ của 5 vị vua đời nhà Trần, gồm Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông. Sách xuất hiện vào cuối đời nhà Trần (1226-1400). Sau này, Thiền Sư Chân Nguyên (1647-1726) dựa vào Thánh Đăng Lục để viết cuốn Thiền Tông Bản Hạnh.

- Hương Hải Thiền Sư Ngữ Lục: Ghi lại những lời dạy của Thiền Sư Hương Hải (1628-1715) quê ở tỉnh Nghệ An, từ quan đi xuất gia với Thiền Sư Viên Cảnh, sau đó vào Quảng Nam hành đạo.

- Duy Lực Ngữ Lục: Ghi chép lại những lời dạy của Thiền Sư Duy Lực (1923-2000) trong những kỳ thiền thất. Được thực hiện bởi một nhóm Phật tử, mà đại diện là Mai Thắng Nghĩa.

Chắc chắn là còn nhiều ngữ lục và tuyển tập công án, nhưng với khả năng giới hạn, người viết chỉ có thể giới thiệu một số như trên để độc giả tham tường.
 
Thơ Thiền
 
Đây là lãnh vực nổi bật nhất và cũng thú vị nhất trong văn học Thiền. Thiền Sư Daisetz Teitaro Suzuki (1870-1966) đã viết trong phần đầu cuốn “Essays in Zen Buddhism” [Thiền Luận](14) rằng, “Ta có thể nói Thiền khai phóng tất cả năng lực nội tại và tự nhiên tích tập trong mỗi người chúng ta, nguồn năng lực ấy, trong hoàn cảnh thường, bị co rút lại, và vặn tréo đi, đến không vùng thoát đâu được.”

Nói cách khác, năng lực kiến tánh và giác ngộ của Thiền có khả năng giải phóng con người ra khỏi mọi trói buộc hữu hạn của kiếp nhân sinh bình thường để mở tung cánh cửa tâm thức trước thực tại vô biên. Đây chính là nguồn mạch sáng tạo kỳ diệu của văn học Thiền. Trong cảnh giới đó, các văn nghệ sĩ Thiền trực diện với cảnh trạng chung quanh bằng con mắt trí tuệ trong sáng như mặt gương có công năng phản chiếu mọi thứ lên đó một cách trinh nguyên, và bằng cõi tâm bình lặng khi đối cảnh không một gợn gió hỉ, nộ, ái, ố, sầu, bi, khổ não nào. Cũng là miêu tả mọi cảnh tượng xảy ra hàng ngày ở thế gian, nhưng thơ Thiền không vẽ cành thêm lá trái lẽ tự nhiên của trời đất và cũng không tô đậm màu sắc bi ai tuyệt vọng. Nếu có cảm xúc của người làm thơ Thiền thì đó cũng chỉ là cảm xúc thanh thoát nhẹ nhàng không bị buộc trói vào cực đoan, quá vui hay quá khổ. Các thiền sư thường nói “bình thường tâm thị đạo” là vậy.    

Tinh thần của Thiền ảnh hưởng rất lớn đến nền văn học, đặc biệt là thơ của nhiều nước, như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Hoa Kỳ… Ở Trung Quốc từ thời nhà Đường (618-907) tới thời nhà Tống (960-1279), những nhà thơ lớn như Bạch Cư Dị, Vương Duy, Tô Đông Pha… đều chịu ảnh hưởng của Thiền. Ở Việt Nam vào thời nhà Lý (1009-1225) và nhà Trần (1226-1400) là thời cực thịnh của đất nước và Phật Giáo Việt Nam, mà trong đó Thiền Tông chiếm vai trò trọng yếu, với các bậc cao tăng là những nhà thơ như Pháp Thuận, Mãn Giác, Không Lộ, cùng các nhà vua cũng là những nhà thơ như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ… Và sau này có nhiều nhà thơ như Hương Hải, Chân Nguyên, Nguyễn Du, Ngô  Thì Nhậm, Huyền Không, Nhất Hạnh, Tuệ Sỹ… Ở Hoa Kỳ, Thế Hệ Beat (Beat Generation) từ sau Đệ Nhị Thế Chiến đã chịu ảnh hưởng Thiền của Suzuki rất sâu đậm trong thơ văn, mà trong đó chúng ta có thể kể tên vài nhà văn và nhà thơ lớn như Jack Kerouac (1922–1969), Allen Ginsberg (1926–1997), Gary Snyder (1930-)… Sau đây xin trích một số bài thơ để độc giả thưởng lãm.

Thiền Sư Vĩnh Gia Huyền Giác (665-713) là môn đệ của Lục Tổ Huệ Năng đã có tập thơ Chứng Đạo Ca rất nổi tiếng. Tập thơ này gồm 56 đoạn với hơn 200 câu thơ bày tỏ kiến giải chứng ngộ của tác giả. Xin trích một đoạn trong Chứng Đạo Ca như sau:

“Chơi biển cả, dạo rừng thiêng,
Tìm thầy hỏi lấy đạo tham thiền.
Từ ngày rõ nẻo Tào Khê ấy,
Mới hay sống chết chẳng tương can.”(15)

Thiền Sư Đại Ngu Lương Khoan (Ryokan Taigu, 1758-1831) ở Nhật Bản thuộc dòng Thiền Tào Động được truyền từ Trung Quốc đến Nhật, là một nhà thơ nổi tiếng. Thơ ông có họa và nhạc chấp cánh cho tâm rỗng lặng thêm mênh mông. Cư Sĩ Nguyên Giác đã dịch một bài thơ của Ryokan trong bài viết về vị thiền sư này. Xin trích một đoạn trong đó, như sau:

“Trong vắng lặng, bên cửa sổ trống
Ta ngồi thiền tọa, mặc phẩm phục trang nghiêm,
Rún và mũi thẳng đường,
Tai song song với vai
Ánh trăng ngập cả phòng;
Mưa đã ngưng, nhưng mái hiên còn nhỏ giọt.
Toàn hảo giây phút này—
Trong tánh không vô tận, hiểu biết ta thẳm sâu.”(16)

Trong tập thơ Thử Tìm Dấu Chân Trên Cát (17) do Sư Cô Chơn Không sưu tập những bài thơ của Thiền Sư Nhất Hạnh, có bài Tâm Nguyệt mang hương vị Thiền rất đậm đà:

“xôn xao, trời dậy hoàng hôn mới
mắt biếc, chim chuyền lá thủy tinh
thức giấc lãng quên
hồn rựng sáng
hồ Tâm lặng chiếu Nguyệt thanh bình”

Thơ Thiền còn nhiều lắm ở khắp Đông Tây kim cổ, nhưng trong giới hạn của một bài viết ngắn như thế này thì không thể trích nhiều hơn nữa. Xin cảm tạ vậy!
 
Huỳnh Kim Quang
 
_______________________
 
(1) Tuệ Sỹ, Tựa ‘Thiền Định Phật Giáo, Khởi nguyên và Ảnh hưởng’ -- https://hoangphap.org.
(2) Tuệ Sỹ, Dẫn Vào Thế Giới Văn Học Phật Giáo – www.hoangphap.org.
(3) Albert Welter, “Mahakasyapa's smile. Silent Transmission and the Kung-an (Koan) Tradition,” xuất bản năm 2000.
(4) Katsuhiro Yoshizawa, “The Religious Art of Zen Master Hakuin,” Counterpoint Press, 2009.
(5) Thích Tuệ Sỹ, “Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết,” Chương 9: Pháp Môn Bất Nhị.
(6) Heinrich Dumoulin, “Zen Buddhism: A History. Volume 1: India and China,” World Wisdom Books, 2005.
(7) John McRae, “Seeing Through Zen. Encounter, Transformation, and Genealogy in Chinese Chan Buddhism,” The University Press Group, 2003.
(8) John Jorgensen, “Heinrich Dumoulin's Zen Buddhism: A History,” Japanese Journal of Religious Studies, số 18 năm 1991.
(9) Albert Welter, “The Textual History of the Linji lu (Record of Linji): The Earliest Recorded Fragments.”
(10) Thiền Quan Sách Tấn: Thiền Sư Châu Hoằng biên tập, Thiền Sư Thanh Từ dịch Việt -- https://thuvienhoasen.org.
(12) Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Thiền Uyển Tập Anh -  www.thuvienhoasen.org.
(13) Các truyền bản Tam tổ thực lục -- https://thuvienhuequang.vn.
(14) Daisetz Teitaro Suzuki, “Essays in Zen Buddhism” [Thiền Luận], Trúc Thiên và Tuệ Sỹ dịch.
(15) Huyền Giác, Chứng Đạo Ca, Trúc Thiên dịch -- www.thuvienhoasen.org
(16) Thiền Sư Ryokan Taigu, Cư Sĩ Nguyên Giác dịch, trích từ bài viết “Ba Thiền Sư: Ikkyu Sojun, Hakuin Ekaku, Ryokan Taigu,” – www.thuvienhoasen.org.
(17) Thích Nhất Hạnh, Thử Tìm Dấu Chân Trên Cát -- https://langmai.org
 

Một truyện ngắn kinh điển của văn hào André Maurois, qua bản dịch của nhà văn Thân Trọng Sơn.
Không phải ngẫu nhiên mà Viết Về Nước Mỹ được nhà thơ Nguyên Sa gọi là “Lịch Sử Ngàn Người Viết.” Mà nếu tính cho đến ngày hôm nay, con số “ngàn” ấy chắc đã lên tới chục ngàn, trăm ngàn. Viết Về Nước Mỹ năm nay là năm thứ 25.
Trong không gian tĩnh lặng của một buổi sớm mùa thu tại thủ phủ Sacramento. Trời đã se lạnh, gió mùa vừa sang và những cơn mưa cũng đang bắt đầu nặng hạt, con chắp tay hướng về phương trời xa, nơi pháp thân Thầy vẫn tỏa rạng giữa hư vô. Bao nhiêu lời muốn nói, rồi bỗng hóa thành im lặng, vì làm sao dùng được lời phàm để nói hết công đức, trí tuệ và từ bi của một bậc Thạc đức như Thầy, người mà bốn chúng gọi là bậc minh sư, bậc long tượng Phật Giáo Việt Nam – Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ – người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp, dân tộc và nhân loại.
Khi nói tới những dòng thơ không bao giờ chết, nơi đây chúng ta chỉ muốn nói rằng có những dòng chữ sẽ vẫn được lưu giữ trong ký ức một dân tộc, bất kể là những trận mưa bom, đạn, mìn, đại bác không ngừng bắn vào họ. Và ngay cả khi những tập thơ, các trang giấy có bị đốt ra tro, những dòng thơ đó sẽ vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời kia của một dân tộc, nếu họ còn sống sót. Chúng ta may mắn sống trong thời đại của điện thoại thông minh và Internet, nên được nhìn thấy những hình ảnh, đoạn phim, được nghe những tiếng kêu đau đớn từ dưới những đống gạch vụ, và được đọc những đoạn thơ ngắn được gửi ra rất vội từ những người sống sót sau các trận thảm sát. Thế giới này đầy những trận mưa tội ác, từ thảm sát Ukraine tới gạch vụn Gaza...
Trong dòng chảy của Văn học hải ngoại, Trịnh Y Thư là một thành phần cá biệt. Văn chương nghệ thuật với ông trước hết phải đồng nghĩa với cái Đẹp và ông đã áp dụng trong văn thơ cũng như dịch phẩm của ông...
Nhà thơ tên thật Lê Hà Vĩnh, sinh năm 1940 tại Hải Dương. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954. Đầu thập niên 1960 ông cộng tác với Nguyên Sa làm tờ Gió Mới. Sau ngày 30-4-1975, ông cùng vợ - Nhã Ca, bị chính quyền Cộng sản Việt-Nam bắt giữ, riêng ông bị giam cầm 12 năm, 1976 -1988.
Nhã Ca, tên thật Trần Thị Thu Vân, sinh ngày 20-10-1939 tại Huế. Nhà văn nhà báo thời Việt Nam Cộng Hoà, sau nhiều năm tháng bị bắt và tù đày sau biến cố 30-4-1975, đã được Văn Bút Thụy Điển bảo lãnh sang nước này tháng 9-1988. Một thời cùng gia-đình sang định cư ở vùng Quận Cam CA, cùng chồng Trần Dạ Từ chủ trương tuần báo Việt Báo Kinh Tế (sau thành nhật-báo Việt Báo và từ tháng 12-2019 trở lại thành tuần báo) rồi thêm Việt Báo USA (San Jose, cùng Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)
Nhã Ca sáng tác bài “Một Đoạn Nhã Ca” vào năm 1972. Trước biến cố lịch sử 1975, bà là một trong vài nhà thơ nữ hàng đầu ở Miền Nam Việt Nam, với dòng thơ mang những tứ thơ sâu sắc, ngôn ngữ thơ lãng mạn, ý niệm thể hiện và bênh vực giá trị của người nữ. Thơ Nhã Ca có thể gom vào hai chữ “dám nói.” Bài “Một Đoạn Nhã Ca” mở đầu bằng 9 câu, kết bằng 3 câu, và 111 câu thân, tổng thể là 123 câu, chia ra 15 đoạn. Nhìn một cách tâm lý, phải chăng 15 đoạn thơ này đại biểu một số điều cho một đoạn tiểu sử ngầm của Nhã Ca? Nói một cách văn vẻ, phải chăng có 15 cửa sổ để mở nhìn vào căn nhà bí ẩn của một nhà thơ nữ? Đây là bài thơ truyền đạt qua thể thơ tự do. Số chữ không đều trong mỗi câu. Số câu không đều trong mỗi đoạn. Số đoạn không có giới hạn trong bài. Sự so le và thoát khỏi ràng buộc này nói lên tình tiết diễn đạt qua thơ không bị tù túng, ý thơ không bị chật hẹp trong luật lệ. Phù hợp với cảm xúc thôi thúc, ngổn ngang của tác giả và tạo ra cảm giác kích động của độc giả
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Nếu phải tóm tắt các tác phẩm lớn của nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025), có thể nói rằng ông đã phản ánh nỗi lòng của người trí thức Việt Nam cùng thế hệ, là những người bước vào tuổi 20 trong thời kháng chiến, chứng kiến sự đảo lộn của xã hội. Họ đã có thể có những phản ứng, hành động trước thời cuộc đó, nhưng phần nào bất lực không ngăn chặn được những xáo trộn xảy ra chung quanh. Truyện dài Dòng Sông Định Mệnh (1959) là một tác phẩm như thế. Ở mặt nổi, đó là một chuyện tình lãng mạn, hai người trẻ, một dòng sông. Nhưng sâu hơn, đó là bi kịch của những con người bị cắt đôi giữa lý tưởng và sự thật phũ phàng. Ở phương diện đó, Dòng Sông Định Mệnh có những chi tiết, những nhân vật hình mẫu sẽ trở lại trong bộ tiểu thuyết Khu Rừng Lau, nhất là tập Ba Sinh Hương Lửa (1962), mà ông sẽ viết sau này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.