Hôm nay,  

Chữ "Đức"

14/05/202408:00:00(Xem: 2476)
1688841448-Ngoi-sao-bac-anh-sinh-2237-1514268953

Tôi thực sự ngạc nhiên và thích thú trong chuyến hành hương thánh địa Bethlehem khi tôi phát hiện ra hình Mặt Trời 14 Tia (Thập Tứ Nhất Tâm là Chữ Đức của Trống Đồng Ngọc Lữ) lại đánh dấu nơi Máng Cỏ mà Đức Hài Đồng Giêsu giáng trần tại Hang Đá Bethelem cách nay hai nghìn năm.
    Thánh Địa này đã được Hoàng Đế Constantine giúp phương tiện cho mẹ ngài là Thánh Nữ Hoàng Thái Hậu Helena, xây dựng Vương Cung Thánh Đường Giáng Sinh (Church of the Nativity) vào năm 327 sau Công Nguyên, cách Thành Thánh Jerusalem khoảng 8 cây số về hướng Nam trong phần đất của người Palestine ngày nay.
    Theo truyền thuyết thì Vương Cung Thánh Đường Giáng Sinh đã đặt bàn thờ ngay trên máng cỏ, nơi Chúa Hài Đồng Giêsu sinh ra trong hang đá, và bên dưới bàn thờ hiện ra là hình Mặt Trời 14 Tia Sáng bằng bạc khảm trên một tảng cẩm thạch, biểu trưng cho chữ Đức, là đạo đức, phúc đức, nhân đức, ân đức... như như Tổ Tiên Việt Nam chúng ta đã từng viết trên mặt Trống Đồng Ngọc Lữ. Chứng cứ Mặt Trời 14 Tia Sáng cũng được ghi nhận trong quyển sách của Thánh Tử Đạo Justin (Martyr) viết vào khoảng năm 160 sau Công Nguyên.
    Cũng như trong bài Phúc Đức mà là nền tảng đạo sống của Dân Tộc Việt Nam mà tôi đã có dịp thưa chuyện, thì theo Việt Ngữ, chữ Đức có nghĩa Mặt Trời 14 Tia Sáng được đặt ở trung tâm mặt Trống Đồng Ngọc Lữ, gồm có bộ chữ “Thập + Tứ + Nhất + Tâm,” là Mười Bốn Người Một Lòng – hay 14 người đồng tâm, hoặc mang tinh thần đồng bào (đồng là cùng, bào là bọc) anh em cùng được sinh ra một lần và một lúc từ Một Bọc Trăm Con của Mẹ Cha Tiên Rồng.
   Vậy thì khi khắc Trống Đồng, dùng để làm trống canh giờ giấc, trống trận hay báo động cho dân làng tập họp... thì Tổ Tiên Việt Nam chúng ta cũng đã có dụng ý nhắc nhớ Con Cháu Tiên Rồng về tinh thần đồng bào là sống theo nguyên lý “Thân Thương & Bình Đẳng,” đồng thời học hỏi về về chủ đề Đạo Đức Làm Người.
    Nguyên lý “Thân Thương” trong truyện tích Trầu Cau & Đá Vôi, thì Tổ Tiên dạy chúng ta rằng đã sống vì Thân Thương, chết cho những người mình thương, và dẫu có chết cũng vẫn còn thương... như nhai trầu cau và đá vôi, quyện chung lại thành màu đỏ hay màu máu để diễn tả nguyên lý “Thân Thương Tột Cùng.”
   Đang khi nguyên lý Bình Đẳng cũng được ghi nhận trong truyện tích Chử Đồng & Tiên Dung, và Tổ Tiên nhận định rằng, chúng ta “Phải thấy nhau bằng con người thật, con người tinh tuyền và đừng để vật chất, lụa là, hay tiền tài danh vọng mà nhận diện, hoặc đo lường giá trị con người” như những văn hóa sai lệch mà chúng ta đang thấy hiện nay.
   Do đó, chúng ta có thể dùng Thân Thương & Bình Đẳng của Tổ Tiên mà làm hòa thuận cho cả một dân tộc đang có hàng trăm triệu người khác biệt tôn giáo, mà vẫn thực thi “Công Bình & Bác Ái của Chúa hay “Từ Bi & Hỷ Xả” của Phật vậy.
   Việc thực hành này chính là điều 7 trong Tám Mối Phúc Thật: “Ai làm cho người hòa thuận ấy là phúc thật, vì chưng mình sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời vậy.” Tôi đã nhận thức ra từ bảy năm trong ngục tù cải tạo ở Viêt Nam sau ngày Sài Gòn thất thủ.
    Cũng theo Việt Ngữ, chữ Đức có nghĩa là hành động, hoạt động, thực hành khi con người có Đạo. Nếu Đạo là thể tĩnh của Trời Đất, của Đấng Sáng Tạo, thì Đức là thể động của Trời Đất, là hành động, là thần lực, là sức sống sức mạnh của những Người Thụ Tạo như chúng ta học hỏi Đạo để mang Đạo áp dụng vào cuộc sống nhân bản Con Người.
    Giờ đây vợ chồng chúng tôi đi hành hương Thánh Địa và quỳ xuống bái lạy rồi hôn lên Mặt Trời 14 Tia trong Đền Thánh Giáng Sinh của Chúa, cũng như xin Chúa soi sáng và cảm tạ Chúa đã dẫn dắt chúng tôi tới kính viếng nơi Thánh Địa hiển vinh này.
   Đặc biệt “Trong gian truân con đã kêu cầu, và Chúa đã đáp lời con...” như trong 7 năm tù đày cải tạo, chịu tra tấn đánh đập con nài van Chúa và Chúa đã giúp cho chúng con bình thân, mở tâm, khai trí, thông tuệ để nhận ra chữ Đức trên Trống Đồng Ngọc Lữ hay Thạp Đồng Đào Thịnh qua hình ảnh của Mặt Trời 14 Tia:
    - Thân Xác Sinh Động
    - Trí Năng Tinh Biến
    - Tâm Tình Thông Hiệp
    - Tuệ Linh Vĩnh Cửu
    Kể từ đó mà con đã có được lá cờ mà con đặt tên là “Cờ Phúc Đức” ngay khi con còn ở trong nhà tù công an (bò vàng) Xuyên Mộc, cho tới ngày nay là cờ của Trời Đất, cờ của Quốc Tổ và Hồn Thiêng Sông Núi, được trưng ra để phò trợ cho Con Cháu Tiên Rồng, tức lớp Thanh Niên Việt Nam thời đại đứng lên làm cuộc Cải Hoá Bản Thân, Cải Hoá Xã Hội và Giúp Dân Dựng Nước, theo Quan Niệm Sống Phúc Đức của Dân Tộc Việt Nam.
    Đọc trong sách Thánh Kinh Cựu Ước chúng ta cũng biết rằng: “Ngôi Sao 6 Cánh” hợp lại từ hai tam giác cân đặt đều lên nhau, thường được gọi là “Ngôi Sao David,” hay “Tấm Khiên David,” hoặc còn gọi “Dấu Triện Salomon.”
    Ngôi sao của Vua David có 6 cánh, nhưng thực ra lại tượng trưng cho số 7, gồm 6 cánh và phần lục giác bên trong tâm. Theo sự giải thích của Kinh Thánh thì 6 cánh của ngôi sao này, đại diện cho 6 ngày trong một tuần lễ, và phần lục giác bên trong thì tượng trưng cho ngày thứ 7 là ngày Sa Bát, hay là ngày Chúa Nhật.
    Cũng Theo trong Thánh Kinh Cựu Ước dạy rằng: Số 7 mang ý nghĩa đặc biệt trong đức tin Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo đã tạo dựng ra vũ trụ và con người trong tuần lễ. Thực tế, Chúa tạo dựng ra thế giới muôn vật muôn loài và con người trong 6 ngày, thì phải có một ngày thứ 7 để Ngài nghỉ ngơi.
    Mặt khác “Ngôi Sao Sáu Cánh” cũng làm liên hệ đến ấn triện của Vua Solomon, người đầu tiên xây dựng Đền Thờ Jerusalem. Vua Solomon cũng được ghi nhận là do Chúa ban tặng cho món quà “Trí Tuệ/ Khôn Ngoan” hay “Kiến Thức (Knowledge) và Thông Toàn (Wisdom) trong Thời Đại Tín Nghiệp ngày nay. Tóm lại hai Mặt Trời Vua David và Vua Solomon cộng lại cũng là số 14 Tia Sáng.
    Cũng theo Thánh Kinh dạy rằng: Ấn Triện là biểu tượng cho sự hoà hợp đất trời, hoặc bốn phương tám hướng đông tây nam bắc. Bởi thế những ý tưởng này cũng như tấm khiên ngôi sao David trở thành một biểu tượng phong ấn và bảo vệ Đức Tin.
    Từ thế kỷ 17 Ngôi Sao David trở thành con dấu chính thức của nhiều cộng đồng người Do Thái, mặc dù nó không được ghi rõ trong Kinh Thánh hay Sách Talmud. Nhưng hiện nay, từ thế kỷ 19, Ngôi Sao David được người Do Thái chấp nhận và phổ biến toàn diện, làm thành một biểu tượng của Do Thái giáo, tương tự như biểu tượng Thập Tự Giá của Công Giáo.
    Quốc Kỳ Do Thái được công bố vào năm 1948, ở trung tâm cờ đặt biểu tượng Tấm Khiên của Vua David kết hợp với Dấu Triện của Vua Solomon, gọi là Ngôi Sao David có 6 cánh tia, xuất hiện cách nay hơn bốn ngàn năm (National Flag consisting of a central Shield of David (Hebrew: "Magen David," which is also popularly known as the Star of King David).
    Cũng trong chuyến hành hương thánh địa, tôi gặp và tâm tình với người thanh niên Israel trên chuyến du thuyền qua bờ Biển Hồ Galilee, anh cho tôi biết niềm tự tin và tự hào dân tộc của anh được thể hiện qua Kinh Thánh và Quốc Kỳ với Ngôi Sao David.
    Anh hỏi tôi về tình hình chính trị Việt Nam, thì tôi cũng mạnh dạn thưa rằng: "Tôi cũng như anh, tôi cũng có niềm tự tin và tự hào dân tộc Việt Nam qua Chính Thuyết Tiên Rồng, được gọi là Kinh Việt và đoàn kỳ Đạo Đức Việt Nam gọi là Cờ Phúc Đức, với Mặt Trời Đỏ toả 14 Tia Sáng được Tổ Tiên ghi khắc ở trung tâm của Trống Đồng Ngọc Lữ và Thạp Đồng Đào Thịnh.

 

– Phạm Văn Bản

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi đã đến Macau, hay Áo Môn, nhiều bận, nhưng đó là khi nó còn thuộc về Portugal và mang mùi cá bacalao sát muối tỏi, trên cửa biển còn phảng phất vị gà kiểu Angola. Nói vậy chứ sau các cuộc biểu tình 1966 địa phương đả thực, chính quyền thuộc địa đã nhân nhượng nhiều. Từ cách mạng 1974 tại mẫu quốc Portugal trở đi, từ “Cách mạng Hoa cẩm chướng”, thì Macau chỉ còn là nơi nước Bồ tạm thời quản lý cho Trung quốc cho đến khi hết hạn thuê đất. Nhưng chuyện đây là mới sau năm 1999, khi cờ đỏ đã phất phới ngoài của khẩu và Áo Môn trở thành 1 đặc khu hành chánh của Cộng hòa Nhân dân.
Thứ nhất "Bá nhân bá tánh",/ Trời sinh ta cá tánh khác nhau / Người thích ở chốn rừng sâu, / Kẻ tìm đến chốn đâu đâu cũng người. / Chấp nhận người khác ta thôi, / Mỗi người một kiểu đừng chơi... "độc tài".
Họ một nam và một nữ, dạng bé nhỏ và đen đủi vào khoảng tuổi đôi mươi trong ngoài. Người thanh niên cởi trần và đeo gùi, cả hai đều chân đất và cô gái mặc cái áo len màu mè, rách ở nhiều chỗ. Họ không vào sân nhà mà chỉ đi ngang phía ngoài vài mươi thước. Trong ký ức của tôi sau này một thời gian dài là người thanh niên có đeo cung tên nhưng sự thật có lẽ anh chỉ có 1 cái rựa vác trên vai hay là anh không có đến con dao, tấc sắt đi rừng. Nhưng chi tiết cung tên này rất là quan trọng mặc dù nó được bịa đặt trong đầu của một thằng bé ba tuổi.
Nhật bản ngoài các kỹ nghệ này kia như ta biết, còn có kỹ nghệ “kyabakura” chiếm 1 tỷ lệ đáng kể của tổng sản lượng quốc gia. Đó là 1 dạng “bia ôm” nhưng chính xác hơn là “bia tâm sự vui buồn” vì khách vào đó không hẳn là để ôm ai mà là nhu cầu tinh thần muốn chia sẻ của đủ hạng đàn ông các cỡ. Tại các quán này bạn uống bia và có người ngồi nghe bạn kể chuyện về mình. Nhân viên phục vụ tại đây vì vậy là chuyên gia nghe chuyện. Theo 1 thăm dò thì họ sếp hạng những thứ đàn ông đáng chán và vô duyên nhất họ phải chịu đựng như sau.
Tôi đến Pháp non ba mươi năm trước do lời mời của một người bạn. Anh ta cũng là họa sĩ. Như hầu hết các đồng nghiệp cùng chủng tộc, không mấy người sống bằng nghề cầm cọ, họ phải có một việc làm nào đó, tuy phụ nhưng lại là chính, nuôi thân, lo cho gia đình, vợ con. Ngày mới vào Đại học Mỹ thuật, như tất cả những người chọn hội họa làm hướng tiến thân, bạn tôi nuôi nhiều tham vọng. Ra trường sẽ sáng tác, sẽ triển lãm, sẽ bán được tranh, báo chí sẽ ngợi khen, vừa có tiếng vừa được miếng. Thế nhưng ba năm miệt mài vẽ, triển lãm, chả ma nào thèm để ý, tranh bán không ai mua, đã đành, truyền thông cũng ngoảnh mặt, có chăng chỉ vài ba dòng thông tin. Chấm hết!
Rượu có chi cay mà uống rượu phải đưa cay. Tôi phân vân về chữ “đưa cay” này. Gọi quách một cách trực tiếp như dân miền Nam: nhậu là phải có mồi. Như đi câu cá. Cá đớp mồi cá sẽ lên bàn nhậu. Nhậu một hồi sẽ “quắc cần câu”. Quắc cần câu là… xỉn, thân hình đi đứng liêu xiêu cong như cái cần câu cá. Xỉn quắc cần câu có biệt tài tự về tới nhà, lăn ra ngủ, khi tỉnh dậy chẳng nhớ cái chi chi. Tại sao người quắc cần câu lại có biệt tài như người mộng du vậy? Mỗi khi con người trải nghiệm được một thứ mới, thùy trước trán sẽ lưu giữ những thông tin này theo dạng trí nhớ ngắn hạn. Sau đó hồi hải mã nằm ở não trước sẽ ghi những thông tin ngắn hạn này để tạo thành ký ức dài hạn. Đường truyền từ thùy trước trán tới hồi hải mã cần có những neuron thần kinh đặc biệt dẫn lối. Say xỉn khiến những neuron này không còn hoạt động. Vậy là xỉn xong ngủ dậy chẳng còn nhớ mô tê gì hết!
Tôi quen biết khá nhiều văn nghệ sĩ, đủ thứ hạng: vang danh năm châu bốn biển, khiêm nhường quận lỵ làng xã, làng nhàng phường khóm, tổ dân phố. Đa phần không như tôi tưởng hồi còn trẻ, họ chả phải là những á thánh mà chỉ là những con người với đầy đủ cung bật tốt xấu. Có anh đóng rất tròn vai trò người chồng, người cha mẫu mực trong gia đình, có chú chân chỉ hạt bột, cơm nhà quà vợ và … sòng phẳng đến độ, trong mắt nhìn bạn bè, là những gã keo kiệt, xem cắc bạc như bánh xe bò, tính toán chi li từng tách cà phê, từng điếu thuốc.
Trung tâm lọc máu, nơi tôi đến “làm việc”, khá qui mô, gồm nhiều nhân viên: văn phòng, tiếp tân, kỹ thuật, lao công dọn dẹp vệ sinh, bác sĩ, trợ lý, y tá… Riêng đội ngũ y tá gồm 6 người, trong số này có hai người cho tôi nhiều ấn tượng nhất: Một anh Mỹ đen cao to như con gấu, chí ít cũng 250 ký, khó đăm đăm, ít khi cười, phát ngôn cộc cằn. Nói chung, thoạt nhìn tôi không ưa nổi, và sợ, tay này lụi kim (mỗi lần 2 mũi, kim to như cây tăm xỉa răng, cách nhau khoảng 2cm, một mũi hút máu ra đưa vào máy lọc chất dơ rồi trả lại cơ thể qua mũi thứ hai. Cứ thế luân lưu hơn ba tiếng)
Hồi học đệ tứ (lớp 9 bây giờ) tôi có một thằng bạn tên Thái Hải, con trai bác sĩ kiêm thi sĩ Thái Can, nó giống tôi ở cái tính “ba nhe” (phương ngữ miền Trung chỉ những bọn trẻ rắn mắt, cứng đầu, nghịch phá), nhưng khác tôi 180 độ: hắn học cực giỏi, tôi cực dốt! Hơn sáu mươi năm, tôi lang bạt kỳ hồ, thỉnh thoảng về quê nhưng chỉ như khách trọ, chỉ lưng bữa nửa tháng lại ra đi, nên không có cơ hội gặp bạn bè xưa, cũng có nghĩa kể từ ngày còn oắt con cho đến bây giờ tôi chưa gặp lại người bạn thời niên thiếu. Nghe nói sau này hắn cũng là bác sĩ như ông thân sinh. Phải thôi, học giỏi như nó, không nối nghiệp cha mới lạ.
Có thể khẳng quyết, trong dòng văn học Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ, chắn chắn Song Thao là nhà văn viết Phiếm uyên bác và mạnh mẽ. Ông đi nhiều, đọc nhiều, viết chuyên cần. Chỉ trên mười năm ông đã trình làng 31 tập Phiếm, mỗi tập trên 300 trang. Đề tài của ông đa dạng, bao quát, từ cây kim sợi chỉ đến vũ trụ bao la với lỗ đen, mặt trăng, sao hỏa, phi thuyền…, đến chuyện đời thường, những địa danh ông từng đặt chân đến. Chúng ta sẽ còn được đọc nữa những tập Phiếm sẽ ra trong tương lai.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.