Hôm nay,  

Ca Từ

17/10/202500:00:00(Xem: 1356)

Diem lien
Hàn huyên với Diễm Liên
Trong một đêm nhạc thính phòng trình bày nhạc Từ Công Phụng và Ngô Thụy Miên được tổ chức tại Vancouver, Canada, ít năm trước đây với sự có mặt của hai nhạc sĩ, tôi có tham dự. Phần đầu các ca sĩ hát nhạc của họ Từ, phần sau nhạc của họ Ngô, có nghỉ giải lao ở giữa. Trong giờ giải lao, tôi vào sau sân khấu để hàn huyên với ca sĩ Diễm Liên. Chúng tôi đang nói chuyện thì nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đi ngang qua, nói với Diễm Liên: “Nhớ hát đúng lời nhạc nhé!”. Diễm Liên le lưỡi, cười. Tôi giữ ý đi ra cho cô…ôn bài.

Ca từ của một bản nhạc là công trình tim óc của một nhạc sĩ, được trau chuốt không kém phần nhạc. Nhà thơ Nguyễn Đình Toàn  đã cho in cuốn sách “Thơ & Ca Từ” được ra mắt tại nhà sách Tự Lực vào ngày 23/4/2022 vừa qua. Phần ca từ được in không có nhạc. Điều này chứng tỏ phần ca từ của một bản nhạc là những gửi gấm thiết tha của tác giả vào tác phẩm, được họ rất trân trọng. Có lẽ chúng ta nên dừng lại để nói chút đỉnh về ca từ của Nguyễn Đình Toàn. Chúng ta biết tới họ Nguyễn qua văn xuôi và thơ. Ít ai biết ông đã học và mê  nhạc từ lúc còn nhỏ. Mộng của ông là thành nhạc sĩ nhưng ông đã đi lạc vào văn chương. Ông làm thơ từ hồi nhỏ nên ca từ của ông cũng là thơ. Nhạc được ông cho phổ biến rất hạn chế vì theo ông, không phải ai cũng cưu mang được nhạc do ông sáng tác. Vậy mà nhạc của ông cũng bị chép sai lời. Trong bài viết “Xuân Cười Trên Căn Gác Nhà Nguyễn Đình Toàn”, tác giả Trịnh Thanh Thủy đã chuyện trò với ông về những ca từ bị ghi sai của ông. Tôi cho ông biết trên mạng họ để lời bài hát của ông rất nhiều nhưng để sai lời cũng lắm. Tôi hỏi ông vài chữ trong bài “Chiều Trong Tù” mà tôi nghĩ ca sĩ đã hát sai như “Trong đau thương tóc người cứng khô.” Tôi hỏi:“’cũng khô,’ phải không chú?" Ông bảo: “Đúng là ca sĩ hát sai, ‘cũng khô’ mới đúng. Trong tù suốt 365 ngày—một năm, lúc nào trong đầu cũng như có lửa, muốn phụt khói ra khỏi đầu. Không có tóc nào chịu nổi nên cái tóc nó cũng khô rốc đi. Còn chữ ‘Vầng mây trắng’ không đúng. ‘Vồng mây trắng’ mới đúng. ‘Vồng mây’ là loại mây nhẹ hơn, mây không tạo thành ‘vầng’. Họ viết: ‘Ta nghe ra trong niềm xót xa,’ ‘Ta nghe ra trăm niềm xót xa’ mới đúng”. Ông cắt nghĩa thêm câu ‘Tay quơ ngang vết hằn năm tháng’ bằng cách giơ tay lên quơ ngang vầng trán, và vầng trán ông hiện ra với những nét nhăn ngày tháng đã ghi dấu trên tuổi tác người”. Còn câu cuối, ‘Cho đêm mù, một cơn đau dài’ bị ghi sai là ‘Cho đêm mờ, một cơn đau dài.’ Chú dùng chữ ‘mù’ mạnh hơn chữ ‘mờ,’ vì nếu ‘đêm mờ’ nghe nó yếu, không đủ mạnh.”

TCS

Danh ca Khánh Ly và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.


Về phần ca sĩ, người thưởng ngoạn chúng ta cũng phải hiểu cho họ nếu họ hát sai lời. Cứ tưởng tượng họ phải thuộc lời của hàng trăm bản nhạc,  nghe đã thấy ngán ngẩm. Một người từ xưa tới nay không bao giờ thuộc hết lời của bản nhạc như tôi, thấy còn kinh hoàng hơn nữa. Những bản nhạc được gọi là nhạc quê hương tương đối có lời nhạc xuôi theo câu chuyện còn dễ nằm lòng, còn những bản nhạc thính phòng ca từ kiêu sa viết theo cảm hứng của tác giả, các ca sĩ khó lòng mà theo nổi. Mỗi chữ là một đánh đố cho ca sĩ. Nếu bài nhạc là một bài phổ thơ thì còn chết một cửa tứ nữa. Thí dụ như bản “Mộng Dưới Hoa”, nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ bài thơ “Tự Tình Dưới Hoa” của nhà thơ Đinh Hùng trong đó có câu: ‘Mắt em lả bóng dừa hoang dại’. Câu này thường bị các ca sĩ hát thành: ‘Mắt em là bóng dừa hoang dại’. Chữ “lả” diễn tả hình ảnh nên thơ của đôi mắt người thiếu nữ đẹp như bóng dừa rủ xuống. “Lả” hát thành “là” mất toi hình ảnh nên thơ này. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương rất không vui về chuyện hát sai lời này. Ông cũng chính là ca sĩ Hoài Bắc,  nên mỗi khi hát tới câu này, ông đột ngột dừng lại và nói: “Lả bóng dừa hoang dại, các bạn ạ, đừng hát “là bóng”, mất đẹp của câu thơ đi”. Và ông hát tiếp!

Nguyen Vu

Nhạc sĩ Nguyễn Vũ.


Chẳng phải chỉ có thơ phổ nhạc, bản nhạc “Xóm Đêm” của ông, ra đời vào thập niên 1950, lời do chính ông viết, có câu: ‘Qua phên vênh có hai mái đầu…’. Các ca sĩ trẻ ít người biết “phên” là cái gì nên tự ý đổi thành “Qua chênh vênh có hai mái đầu”. Thời của họ, những tấm phên được đan bằng tre dùng để ngăn làm vách của những căn nhà nghèo ở Sài Gòn thập niên 1950, bị vênh lên vì mưa nắng lâu ngày tạo thành một khe hở, đâu còn nữa. Họ làm sao có thể tưởng tượng được cảnh nhạc sĩ nhìn qua khe phên vênh thấy hai mái đầu chụm lại dưới ánh đèn “hắt hiu vàng ánh điện câu”. Tôi ngờ rằng nhiều ca sĩ trẻ cũng không biết “điện câu” là thứ điện chi.

Nguyen Dinh Toan

Nhà thơ/ Nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn (Hình: Trịnh Thanh Thủy)


Khoảng cách thời gian giữa khi bản nhạc được sáng tác và bản nhạc được ca sĩ hát lên cũng làm các ca sĩ lúng túng. Nếu chịu khó tìm hiểu tác giả và tác phẩm trước khi trình diễn, họ có thể khắc phục được lỗi hát sai lời này nhưng làm sao đòi hỏi được như vậy khi họ phải hát cả chục bài trong một buổi trình diễn. Chỉ quy lỗi cho các ca sĩ cũng tội cho họ trong khi các bản nhạc xưa không được ghi chép cẩn thận từ gốc để có thể dựa vào mà chỉnh sửa. Với mạng xã hội ngày nay cung cấp mọi thứ kể cả ca từ của các bản nhạc một cách cẩu thả từ thế hệ này qua thế hệ khác dẫn tới việc lời nhạc được truyền bá sai lạc làm các ca sĩ hát sai lời. Nhạc sĩ Quốc Dũng đã trăn trở với tình trạng ca từ năm cha ba mẹ này. Ông cho biết trước đây các bản nhạc được phổ biến dưới hình thức tờ bướm in lời do chính tác giả viết và chính tác giả phổ biến nên ca từ bài hát ít khi sai. Những năm gần đây, các nhà xuất bản gom nhiều bản nhạc in thành tuyển tập. Họ làm ăn thiếu nghiêm chỉnh khi giao cho một người thu thập và sao chép lại. Nguồn thu thập của họ có khi không nguyên gốc, không phải văn bản từ chính tay tác giả nên chuyện sai lời là dễ hiểu.

Không chỉ các ca sĩ trẻ hát sai lời, các ca sĩ gạo cội cũng hát sai như điên. Ca sĩ Quang Dũng khi ca bài “Lá Đổ Muôn Chiều” của Đoàn Chuẩn và Từ Linh đã hát: ‘Còn nhớ phương nào hoa đã rơi’ thành ‘Còn nhớ hôm nào hoa đã rơi’. Hát “phương nào” thành “hôm nào” là đổi không gian thành thời gian. Viết tới đây tôi nhớ tới một lời nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy: “Đừng cho không gian đụng thời gian”!

Nguyen Dinh Toan 2

Bìa cuốn “Thơ và Ca Từ » của Nguyễn Đình Toàn.


Khánh Ly hát sai lời nhạc Trịnh Công Sơn là điều ít ai nghĩ có thể xảy ra. Vậy mà có. Trong một buổi tọa đàm vào năm 2018, Khánh Ly đã thừa nhận như vậy. Bà cũng cho biết là khi sinh thời, nhạc sĩ họ Trịnh chưa bao giờ có những yêu cầu với những người hát nhạc của mình. Ông thích mọi người biểu diễn nhạc của ông theo cách riêng. Với ông, họ hát nhạc của ông đã đủ làm ông hạnh phúc. Ca sĩ Khánh Ly đã từng nói: “Các ca sĩ bây giờ hát nhạc Trịnh theo tâm tư của họ, cảm xúc của họ lúc đó. Mình không thể chê: cô này phải hát thế này, cô kia phải hát thế kia. Cái khổ của người khi hát quên lời là bị trách móc. Tôi hát sai thì không ai nói gì cả. Đấy là bởi tấm lòng thương cảm của mọi người đối với tôi, dành cho tôi nên không ai trách tôi hát sai, dù tôi hát sai lời nhiều. Có ca sĩ trẻ hát cùng tôi, họ hát đúng còn tôi hát sai nhưng khán giả vẫn mặc định… họ hát sai, tôi hát mới đúng. Chúng ta hãy thông cảm, hiểu cho những ca sĩ… hát đúng bây giờ”.


Nhạc sĩ Văn Cao từng gọi nhạc Trịnh Công Sơn là “ca thơ”. Ca từ của ông không phân biệt được đâu là ca đâu là thơ. Ông nổi tiếng là rất tinh tế trong ca từ, lời phức tạp, nhiều tầng nghĩa. Ông thường dùng những từ rất độc đáo và lạ lẫm. Ca từ của ông riêng một cõi, không nhầm với ca từ của bất cứ ai khác. Trong bài “Chiều Một Mình Qua Phố”, ông viết ‘khi nắng khuya chưa lên’ nhưng bị hát nhầm là ‘khi nắng mưa chưa lên’. Nghe đã thấy…nhột. Trong bài “Quỳnh Hương” có câu ‘nụ cười khúc khích trên lưng’ vẽ lên một hoạt cảnh rất tình tứ và dễ thương của một thiếu nữ áp trên lưng người yêu, cười khúc khích.  Vậy mà có ca sĩ hát thành ‘nụ cười khúc khích trên môi’. Nghe rất tầm thường, mất đi một hình ảnh vừa tinh nghịch vừa dễ yêu. Bài “Một Cõi đi Về”, câu hát ‘ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì’ bị đổi thành ‘thổi buốt’ hay tệ hơn, ‘thổi xuống’ xuân thì. Một câu trong bài “Diễm Xưa”: ‘Nhỡ mai trong cơn đau vùi’ bị đổi thành ‘Nhớ mãi trong cơn đau vùi’ làm mất đi một câu trách móc nhẹ nhàng của tác giả. Chữ ‘con tinh’ trong bài “Một Cõi Đi Về”: ‘con tinh yêu thương vô tình chợt gọi’ nhiều ca sĩ không hiểu đã đổi thành ‘con tim’. “Con tinh” là một danh từ rất Huế chỉ những cô gái nhỏ, xinh xắn và nghịch ngợm bị người thân mắng yêu là “đồ yêu tinh”. Khi bị đổi thành ‘con tim’ thì tầm thường, chẳng ra làm sao. Nhưng vui nhất là  câu ‘em đi qua chuyến đò, thấy con trăng đang nằm ngủ’ trong bài “Biết Đâu Nguồn Cội” bị trần tục hóa thành ‘thấy con trâu đang nằm ngủ’!

Nhạc sĩ Nguyễn Vũ vừa ra đi vào ngày 24/9/2025, khi tôi đang viết bài này, là nạn nhân khá cay đắng. Bài hát nổi tiếng nhất của ông “Bài Thánh Ca Buồn”, ra đời vào năm 1972, bị sửa lời lia chia. Trong suốt nửa thế kỷ, ông rất rầu rĩ với đứa con bị hành hạ của mình. ‘Rồi một chiều áo trắng thay màu’ là một câu trong nhạc phẩm đã bị hát thành: ‘Rồi một chiều áo trắng phai màu’. Chỉ một chữ “thay” thành “phai” đã làm mất ý nghĩa của câu nhạc. Ông giải thích: “Áo trắng thay màu có nghĩa chiếc áo trắng thơ ngây của cô nữ sinh ngày nào giờ đổi thay sang một màu áo khác khi ‘em qua cầu xác pháo theo sau’”. Chuyện đổi cả một cuộc đời đã trờ nên vô nghĩa khi cho áo trắng “phai” màu. Áo trắng thì sao phai màu được. Ông đã từng tức giận khi nói với một phóng viên: “Áo trắng phai thành màu gì? Màu…cháo lòng hả?”. Câu ‘Rồi những đêm thế trần đón Noel’ bị đổi thành: ‘Rồi những đêm thánh đường đón Noel’. Nghe có vẻ hợp lý nhưng không hợp với ý tác giả. Nhạc sĩ cho biết: “Với tôi, Noel từ lâu đã không còn là một lễ hội tôn giáo dành riêng cho người theo đạo nữa. Noel trở thành lễ hội chung của mọi người. Đó là ngày hội lớn được đón nhận bởi mọi quốc gia, mọi sắc tộc, mọi tầng lớp xã hội”.  Vậy nên Noel không gói gọn trong “thánh đường” mà trở thành niềm vui của “thế trần”. Chưa hết. Ông cho biết: “ Câu tôi viết là Long lanh sao trời đẹp thêm môi mắt, nhưng thường ca sĩ lại hát Long lanh sao trời đẹp thêm đôi mắt. Hay ở câu: ‘Cùng nhau quỳ dưới chân Chúa cao sang’, vì trong đạo Công giáo có lễ hôn chân Chúa, nhưng nhiều ca sĩ lại hát không đúng thành ‘Cùng nhau quỳ dưới tượng Chúa cao sang’. Một câu khác, tôi viết ‘Ôi giọng hát em mênh mang buồn’ thì có người lại hát ‘mênh mông buồn’.

Hoai Trun

Từ trái: Hoài Bắc, Thái Thanh, Hoài Trung.


Kể ra thì còn nhiều câu hát bị sửa lời như trong ca khúc “Đêm Đông” của nhạc sĩ Nguyễn văn Thương, câu ‘Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống’ bị đổi thành ‘Chiều chưa đi màn đêm buông xuống’. Trong bản “Riêng Một Góc Trời”, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên có câu: ‘Nụ hôn đã mơ say, bờ môi ướt mi cay, nay còn đâu’. Chữ “mơ’ rất đắt, khi ca sĩ đổi thành “mê say”, mất hết vẻ đẹp tới rợn da gà của chữ “mơ”. Bài “Dấu Tình Sầu” cũng của Ngô Thụy Miên, ‘Ngàn năm cho giá băng hồn / Tuổi buồn gầy lên màu mắt’. Chữ “gầy” nơi đây cũng rất đắt. Vậy mà người ta đã bán rẻ chữ “gầy” bằng chữ “nầy” khiến chúng ta chỉ muốn bưng tai khi nghe. Nhạc sĩ Phạm Duy, bậc thầy về ca từ, trong bài “Tuổi Thần Tiên” ông viết: ‘Cỏ trinh nữ tắm trong phấn thông mờ / Khi mưa về, e thẹn cỏ hoa’. Vậy mà nỡ lòng nào hát “em” thay vì “e” làm sai lạc hết chủ từ. Cỏ trinh nữ e thẹn chứ không phải một “em” bá vơ nào đó xông vào e thẹn.

Tôi nhớ khoảng cuối thập niên 1980, ca sĩ Quỳnh Giao khi đó còn ở thủ đô Washington D.C., đã có ra vài cassette mang tên “Kỷ Niệm”. Điểm đặc biệt là trước mỗi bài hát, cô mời tác giả bài hát nói một vài câu giới thiệu. Nhạc sĩ Vũ Thành chắc bị sửa lời bài hát nhiều nên giọng nói có vẻ bực bội. Ông nói đại khái: ca sĩ hát một bản nhạc như đọc một bức thư. Tác giả viết thế nào, cứ thế mà đọc, không được sửa chữ chi cả. Vậy mà có những danh ca, tới đây ông nhấn mạnh: những “đại danh ca”, vẫn thích sửa lời của tác giả khi trình bày bản nhạc. “Đại danh ca” Thái Thanh đã có lúc sửa lời nhạc của ông anh rể Phạm Duy. Bài “Cho Nhau”, tác giả viết: ‘Cho nhau ngòi bút cùn trơ / Cho nhau, cho những câu thơ tàn mùa / Cho nốt đêm mơ về già’. Thái Thanh hát: ‘Cho nhau ngòi bút còn lưa /…./ Cho nối đêm mưa về già’. Phạm Duy viết: “Cho nhau thù oán hờn ghen / Cho nhau một cõi âm ty một miền’. Thái Thanh hát: ‘Cho nhau một nỗi âm ty một miền’. Tác giả Nghiêm Nguyễn giải thích: “’Lưa’ là chữ cổ, nghĩa là “còn sót lại”, nhưng mang một âm thanh u hoài, luyến lưu, tiếc nuối. Dĩ nhiên “ngòi bút cùn trơ” mang ý nghĩa chính xác hơn, nhưng nghe không thi vị bằng “ngòi bút còn lưa”. “Cho nốt đêm mơ về già” có nghĩa là cho hết đi, không còn chừa gì cả, nhưng “Cho nối đêm mơ về già” nghe sâu nặng, thủy chung hơn. Chữ “nỗi” mang ý nghĩa sâu xa, hay hơn chữ “cõi”. Vì từ “cõi” mang một ý niệm hữu hình về không gian, tuy có vẻ bao la nhưng hữu hạn. Còn “nỗi” là một ý niệm vô hình, diễn tả tâm trạng con người, tưởng chừng như nhỏ bé so với “cõi” không gian, nhưng thật ra mông mênh, vô tận lòng người”.

Không nghe nói phản ứng của bậc thầy chữ nghĩa Phạm Duy nhưng coi bộ ông không thể không gật đầu!
                                                                                                     
10/2025                                                                                  
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi là dân Huế chính gốc 100% tức là dân Huế “chay”, Huế rất chi là Huế, Huế từ đầu đến chân, Huế từ trong ra ngoài nên phát âm các chữ có dấu HỎI-NGÃ rất tùy tiện, phóng túng, hoàn toàn không giống người dân ở miền Bắc của Cố Đô Thăng Long, mặc dù Huế của chúng tôi cũng là Cố Đô Ngàn Năm Văn Vật. Do đó dân Huế chúng tôi sợ nhất là những chữ có dấu HỎI-NGÃ lúc viết bài thi chính tả, dù đã học thật kỹ cuốn sách viết về luật HỎI, NGÃ của Thầy Lê Hiếu Kính.
“Cò” đây chẳng phải “Con Cò mày đi ăn đêm” mà cũng chẳng phải “Cái Cò súng của các ông”, không phải, giời ạ. Cò-cảnh-sát hay Cò-mồi lại càng không phải nốt. Cò đây là Thầy Cò. Đúng ra phải gọi là Cô Cò hoặc Bà Cò thì chính xác hơn, nhưng trong ngôn ngữ tiếng Việt tôi chưa thấy ai gọi như thế bao giờ, nghe nó tréo ngoe, nó chỏi tai thế nào ấy. Có lẽ tại cái “nghề Cò” từ hồi nảo hồi nào chỉ toàn do các ông đảm nhiệm. Nhưng thời buổi bây giờ, thời buổi mà các bà các cô có thừa bản lĩnh để xâm chiếm hầu hết các lãnh vực trong nhà (thì đã đành) cũng như ngoài phố thì chắc chắn đã có nhiều Cò phái nữ, mà tôi là một thí dụ điển hình.
Từ khi sinh ra và biết nhận thức thì nhớ/quên gắn liền với cuộc sống hằng ngày cho đến khi lìa trần. Phân Tâm Học ((Psychoanalysis) đã giải thích về nhớ/quên theo trình tự thời gian từ tuổi thơ đến tuổi già nhưng thực tế nó không hoàn toàn như vậy mà tùy theo hoàn cảnh, môi trường sống, giáo dục, xã hội… biến động tâm lý ảnh hưởng đến từng cá nhân với não bộ.
Hồi đó chúng tôi học triết lớp 12C, chúng tôi học với cô Chu Kim Long và có tuần với thầy Vĩnh Để. Cả hai giáo sư của chúng tôi chia giờ ra giảng dậy về tâm lý học rồi phân tâm học về vô thức của triết gia Simon Freud. Phần lý luận học và đạo đức học thì dễ dàng hơn. Riêng phần tâm lý học, nhất là tâm lý học ngôi thứ ba khúc mắc, ở phần dằng co giữa ý thức và vô thức… thành ra bài học bài giảng làm chúng tôi điên đầu và cô, thầy chúng tôi cũng khô cổ họng.
Thông thường, nhà xưa có nền hơi cao nên phải bước lên tam cấp để vào nhà! Ngôi nhà có ba gian hai chái với hàng ba rộng. Trong bếp có ông Táo là ba cục đất, hoặc ba viên gạch... Theo truyền thuyết, đó là “một Bà và hai Ông”. Họ như vậy mà vẫn chịu nổi sức nóng của lửa củi! Hay quá! Đàn bà đi chợ, cho dù món hàng chỉ có đôi ba đồng, họ vẫn trả giá đôi ba lần. Để khỏi bị hố! Cuộc sống của họ dính liền với “ba cọc ba đồng” đó mà! À! Nhân nói về đàn bà mới nhớ ra theo truyền thống, họ phải chịu nép mình vào “Tam tòng tứ đức”! Kẹt lắm chớ không phải chơi đâu! Trong lúc đàn ông thời xưa có “năm thê bảy thiếp” thì đàn bà thời nào cũng chỉ “Chính chuyên một chồng”!
"Nếu cô hôn con cóc này, hôm nay ngày 14 tháng 2, và đúng 7h tối nay, thì sẽ có người đến gõ cửa nhà cô. Đó là Hoàng Tử Trong Mơ của cô đấy". Ban nãy, lúc 5 giờ chiều, khi nàng mở gói quà nhỏ và thấy con cóc, ban đầu nàng đã tỏ thái độ kinh tởm, nhưng rồi, khi đã hết ngạc nhiên và sững sờ, thì nàng đã hoài nghi và lo sợ. Cô nàng này ư, cô ta luôn tin vào Hoàng Tử Trong Mơ. Và tin vào nụ hôn của tình yêu đích thực. Nếu không thì cô đã nhanh chóng thả con vật bé nhỏ kia ra cho rồi. Nhưng vào ngày lễ Thánh Valentine, ngày lễ Tình Yêu, một khi đã nhận kiểu thư như thế này, cô nàng đã trở nên mơ mộng. Cô đặt cái loài ếch nhái này trong một cái gọi là hủ ẩm ướt rất tầm thường làm như không có chuyện gì xảy ra, và chạy vào trong phòng tắm ngắm lại cái dung nhan của mình xem sao. Ôi, ai mà biết được nhỉ.
Đài CBS đưa tin vào ngày thứ bảy 27/7 vừa qua, tại bãi biển Miaquamicut ở Westerley, tiểu bang Rhode Island, chuồn chuồn đã tập kích những người tắm biển. Video ghi lại cho thấy nhiều người đã phải lấy khăn tắm trùm người lại để tránh nạn chuồn chuồn. Một người phát biểu: “Tôi hơi sợ. Tận thế chăng?”. Ông Mark Stickney nói với đài truyền hình WBZ: khi ông tới bãi biển vào lúc 11 giờ sáng thì chuồn chuồn đã bay khắp bốn phía. Tới 1 giờ trưa thì chuồn chuồn tụ lại đông như hội. Ông nói: “Có lẽ có cả hàng trăm ngàn con chuồn chuồn. Rất kỳ lạ!”. Mọi người ngồi chịu trận. Chuồn chuồn không làm phiền ai. Một chuyên viên nghiên cứu về chuồn chuồn, bà Ginger Brown ở Rhode Island, khuyên mọi người đừng sợ hãi vì chuồn chuồn nhìn rất rõ, không bay trúng vào người đâu.
Bài viết này chỉ giải thích đôi nét văn hoá Hoa Hạ về Nho tự, dù vậy vẫn bao hàm được nghĩa nôm na lẫn nghĩa bác học. Đôi khi còn mang nghĩa ẩn dụ, liên quan đến phạm trù nhân văn, xã hội, tự nhiên, tư tưởng triết học tôn giáo. Nói cách khác, đơn giản là tìm hiểu chữ QUÁN và một số chữ QUÁN Hán Việt..
Tháng bảy lại về, những người con Phật khắp nơi nao nao chuẩn bị cho mùa hội hiếu. Không biết tự bao giờ nhưng lễ Vu Lan đã ăn sâu vào tâm khảm của mọi người con Việt. Có những người khác đức tin nhưng cũng biết đến lễ Vu Lan. Tạm gác qua những lý luận khác biệt có hay không có lễ Vu Lan trong Phật giáo. Tạm không bàn về những quan điểm khác biệt giữa các tông phái, các dòng truyền thừa. Chúng ta hãy hoan hỷ với tinh thần báo hiếu, ý nghĩa cao đẹp của lễ Vu Lan. Nào chỉ có người Việt, Người Hoa, người Hàn, người Nhật nói chugn là những dân tộc chịu ảnh hưởng văn Hóa Trung Hoa và Phật giáo Bắc truyền đều hân hoan tổ chức lễ Vu Lan. Với các dân tộc Á Đông đã có một thời gian dài sống với Khổng giáo nên rất coi trọng chữ hiếu, con người lấy chữ hiếu làm đầu.
Thời buổi nay ra đường đi chợ, đi du lịch, nếu cần mang sách hành lý nặng, người ta kéo đồ bằng cái caddie đi chợ, đi chơi xa kéo valises à roulettes. Khi cần mang theo đồ dùng nhiều hay ít, người ta đều kéo, kéo caddie… kéo tất cả bằng tay và bằng những bánh xe, thấy tiện lợi hơn khi xưa, mang, sách, đội, gánh… tất cả đã đổi thay với thời gian. Còn khi xưa, thật xa xưa, người ta bê, đeo hay gánh. Gánh là tiện lợi khi đó, vì gánh được nhiều đồ, gánh được lợi hơn vì đồ gánh xếp cả hai bên, hai đầu đòn gánh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.