Hôm nay,  

Ngày Nhớ Ơn Cha

13/06/200900:00:00(Xem: 5614)
NGÀY NHỚ ƠN CHA
Tuyết Mai
Theo truyền thống văn hóa Việt Nam nói riêng và của Á Đông nói chung , con cái được cha mẹ  và nhà trường dạy dỗ từ thuở ấu thơ:
 “Công cha như núi Thái  Sơn,
Nghĩa Mẹ như knước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
 Những tình cảm thương yêu, quý trọng , hiếu thảo với cha mẹ của người Á Đông được bộc lộ một cách thầm lặng,  quanh năm suốt tháng chứ không chỉ có một ngày trong năm. 
Còn Tây Phuơng và Hoa Kỳ, có Ngày Cho Mẹ (Mother’s Day),  Ngày  Cho Cha (Father’s Day) vì thường ngày mọi người rất  bận rộn với việc học hành, công việc làm ăn sinh sống, tình cảm thương yêu cha mẹ được đặt ở trạng thái thụ động, nên cần có một ngày đặc biệt để nhắc nhở con cái nhớ đến công ơn  cha mẹ, đây cũng là một truyền thống tốt đẹp.
Nếu so sánh  “Ngày cho Mẹ” và “Ngày cho Cha” thì chúng ta thấy có một sự khác biệt. Ngày Cho Mẹ được nhiều đoàn thể cũng như nhiều cá nhân  tổ chức để vinh danh hiền mẫu hơn Ngày Cho Cha.
Trong văn thơ, ca dao Việt Nam cũng có không biết bao nhiêu bài ca ngợi tình mẹ thiêng liêng, bao la như trời cao, bể rộng.  Còn thi nhạc ca ngợi tình cha thì rất hiếm hoi, gần như không tìm thấy trong những tập thơ của những nhà thơ nổi tiếng trong  văn đàn VN.
Tại sao" Có phải vì Cha không thương yêu, không lo lắng cho con cái như người mẹ" Hay vì Cha   là  đàn ông, tính tình trầm lặng, ít  bộc lộ,  không gần gũi với con cái nên con  cái  ít cảm nhận đựơc tình thương như từ trái tim của mẹ - một kỳ quan của vũ trụ"
Sự thực thì trong sự sinh thành  dưỡng dục con cái, công lao cũng như lòng thương yêu lo lắng cho con của người cha cũng bao la như của người mẹ.
Tưởng cũng nên nhắc lại lịch sử và ý nghĩa của “Ngày Cho Cha” ở Hoa Kỳ. Theo tài liệu thì người đề xướng “ Ngày Cho Cha”  (Father’s Day) là bà Sonora Smart Dodd ở Spokane, Washington State. Bà có ý nghĩ nên có một ngày  đặc biệt cho cha trong lúc nghe thuyết giảng về Ngày  Cho Mẹ năm 1909.
Mẹ của Bà đã mất khi sinh đứa con thứ sáu.  Bà được nuôi dưỡng bởi người cha là Ông William Jackson Smart , một cựu chiến binh của Civil War. Ông Smart  đã nuôi dưỡng sáu đứa con  ở vùng nông trại phía Tây tiểu bang Washignton. Khi lớn lên Bà Dodd mới nhận thức được sự hy sinh vô cùng của cha,  Bà muốn cha của Bà biết ông là người rất đặc biệt đối với bà. 

Cha của bà sinh vào Tháng Sáu nên bà đã chọn  “Ngày  Cho Cha”  đầu tiên  vào ngày 19  Tháng 6, 1910 ở Spokane, Washignton State.  Cùng lúc đó nhiều người ở nhiều nơi trong tỉnh và các thành phố ở Mỹ bắt đầu tổ chức ngày cho cha. Năm 1924 Tổng Thống Calvin Coolidge ủng hộ việc công nhận ngày cho cha trên toàn quốc.
Năm 1926 “A National Father’s Day Commitee” được thành lập ở New York. Ngày này được công nhận bởi  “A Joint Resolution of Congress”  vào năm 1956. Năm 1966 Tổng Thống Lyndon Johnson ký  bản văn thư  công nhận Chủ Nhật thứ ba của Tháng Sáu là ngày”Father’s Day”. Ngày này không phải chỉ để vinh danh người cha, mà bất cứ người nào đã thay thế vai trò của ngừơi cha trong sự nuôi dưỡng, giáo dục con cái như cha nuôi, chú bác, ông nội, ông ngoại…
Ngày nhớ ơn Cha được hình thành từ sự biết ơn của một người con gái đã nghĩ đến công lao của cha mình. Tất cả những người cha đáng được con cái nhớ ơn vinh danh trong ngày đặc biệt này.
Đất nước Việt Nam chìm đắm trong  chiến tranh bao nhiêu năm, theo sau là những năm tháng bị đọa đày trong ngục tù Cộng sản,  Hoa Sơn đã nhớ lại  hình ảnh người cha qua mấy vần thơ:
“Vẽ mặt trầm tư đượm nét buồn
Thường ngồi lặng lẻ lúc mưa tuôn
Bao nhiêu u ần chìm trong mắt
Sầu héo lên nhau tựa sóng cuồng
Ngày trước cha tôi rất đẹp trai
Phiêu lưu mạo hiểm những năm dài
Bốn vùng chiến thuật giày in gót
Nào biết giờ đây phải đắng cay
Cha tôi buồn lắm nhưng người dấu
Tối tối bên tôi cố mĩm cười
Kể lại tôi nghe ngày tháng cũ
Kỷ niệm buồn đau chốn ngục tù.”
(Cha tôi – Hoa Sơn)
Trong hoàn cảnh ly hương, lưu lạc phương trời,  nhiều người Việt Nam đã  không đựơc kề cận  mẹ  cha lúc tuổi già. Ước muốn cuối đời của cha mẹ  là được gặp mặt lại tất cả các con trước khi nhắm mắt. Đó là một ước mơ nhỏ bé, đơn giản nhưng nhiều người không thể thực hiện đựơc, đã để lại  niềm đau không nguôi  trong lòng không biết bao nhiêu nguời tha hương nhất là trong ngày nhớ ơn cha:
“Van cha, cứ thế, con ngồi lặng
Nói sao, hà cớ chẳng về thăm
Thâm ân cha mẹ cho đời sống
Cân thước đâu đo nỗi vô cùng
Lỡ có là chim, còn hiểu được
Vì đâu biền biệt tận chân mây
Làm kiếp người sao con chọn nghiệp
Dang cánh bay tít tắp đường dài"
Sớm nay tin vội: Cha yên ngủ
Nhắm mắt rồi chưa thấy mặt con
Mơ hồ nghe tiếng cha trong gió
Con con ơi  bất hiếu chưa từng!
Cố dõi mắt trông  ngoài vô tận
Thấy gì đâu người khuất núi xa
Chỉ thấy bóng con đầu cúi xuống
Tay run run bưng mặt đầm đìa
Hồn thương tiếc gữi cùng nhang khói
Tro bụi: cha, vừa rắc xuống sông
Nước chảy dòng xuôi hay ngược lại
Cha còn nghe tiếng thở dài con"
“Cha Còn Nghe Tiếng Thở Dài Con"”  ( Nguyên Nghĩa)

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.