Hôm nay,  

Ngày Nhớ Ơn Cha

13/06/200900:00:00(Xem: 5387)
NGÀY NHỚ ƠN CHA
Tuyết Mai
Theo truyền thống văn hóa Việt Nam nói riêng và của Á Đông nói chung , con cái được cha mẹ  và nhà trường dạy dỗ từ thuở ấu thơ:
 “Công cha như núi Thái  Sơn,
Nghĩa Mẹ như knước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
 Những tình cảm thương yêu, quý trọng , hiếu thảo với cha mẹ của người Á Đông được bộc lộ một cách thầm lặng,  quanh năm suốt tháng chứ không chỉ có một ngày trong năm. 
Còn Tây Phuơng và Hoa Kỳ, có Ngày Cho Mẹ (Mother’s Day),  Ngày  Cho Cha (Father’s Day) vì thường ngày mọi người rất  bận rộn với việc học hành, công việc làm ăn sinh sống, tình cảm thương yêu cha mẹ được đặt ở trạng thái thụ động, nên cần có một ngày đặc biệt để nhắc nhở con cái nhớ đến công ơn  cha mẹ, đây cũng là một truyền thống tốt đẹp.
Nếu so sánh  “Ngày cho Mẹ” và “Ngày cho Cha” thì chúng ta thấy có một sự khác biệt. Ngày Cho Mẹ được nhiều đoàn thể cũng như nhiều cá nhân  tổ chức để vinh danh hiền mẫu hơn Ngày Cho Cha.
Trong văn thơ, ca dao Việt Nam cũng có không biết bao nhiêu bài ca ngợi tình mẹ thiêng liêng, bao la như trời cao, bể rộng.  Còn thi nhạc ca ngợi tình cha thì rất hiếm hoi, gần như không tìm thấy trong những tập thơ của những nhà thơ nổi tiếng trong  văn đàn VN.
Tại sao" Có phải vì Cha không thương yêu, không lo lắng cho con cái như người mẹ" Hay vì Cha   là  đàn ông, tính tình trầm lặng, ít  bộc lộ,  không gần gũi với con cái nên con  cái  ít cảm nhận đựơc tình thương như từ trái tim của mẹ - một kỳ quan của vũ trụ"
Sự thực thì trong sự sinh thành  dưỡng dục con cái, công lao cũng như lòng thương yêu lo lắng cho con của người cha cũng bao la như của người mẹ.
Tưởng cũng nên nhắc lại lịch sử và ý nghĩa của “Ngày Cho Cha” ở Hoa Kỳ. Theo tài liệu thì người đề xướng “ Ngày Cho Cha”  (Father’s Day) là bà Sonora Smart Dodd ở Spokane, Washington State. Bà có ý nghĩ nên có một ngày  đặc biệt cho cha trong lúc nghe thuyết giảng về Ngày  Cho Mẹ năm 1909.
Mẹ của Bà đã mất khi sinh đứa con thứ sáu.  Bà được nuôi dưỡng bởi người cha là Ông William Jackson Smart , một cựu chiến binh của Civil War. Ông Smart  đã nuôi dưỡng sáu đứa con  ở vùng nông trại phía Tây tiểu bang Washignton. Khi lớn lên Bà Dodd mới nhận thức được sự hy sinh vô cùng của cha,  Bà muốn cha của Bà biết ông là người rất đặc biệt đối với bà. 

Cha của bà sinh vào Tháng Sáu nên bà đã chọn  “Ngày  Cho Cha”  đầu tiên  vào ngày 19  Tháng 6, 1910 ở Spokane, Washignton State.  Cùng lúc đó nhiều người ở nhiều nơi trong tỉnh và các thành phố ở Mỹ bắt đầu tổ chức ngày cho cha. Năm 1924 Tổng Thống Calvin Coolidge ủng hộ việc công nhận ngày cho cha trên toàn quốc.
Năm 1926 “A National Father’s Day Commitee” được thành lập ở New York. Ngày này được công nhận bởi  “A Joint Resolution of Congress”  vào năm 1956. Năm 1966 Tổng Thống Lyndon Johnson ký  bản văn thư  công nhận Chủ Nhật thứ ba của Tháng Sáu là ngày”Father’s Day”. Ngày này không phải chỉ để vinh danh người cha, mà bất cứ người nào đã thay thế vai trò của ngừơi cha trong sự nuôi dưỡng, giáo dục con cái như cha nuôi, chú bác, ông nội, ông ngoại…
Ngày nhớ ơn Cha được hình thành từ sự biết ơn của một người con gái đã nghĩ đến công lao của cha mình. Tất cả những người cha đáng được con cái nhớ ơn vinh danh trong ngày đặc biệt này.
Đất nước Việt Nam chìm đắm trong  chiến tranh bao nhiêu năm, theo sau là những năm tháng bị đọa đày trong ngục tù Cộng sản,  Hoa Sơn đã nhớ lại  hình ảnh người cha qua mấy vần thơ:
“Vẽ mặt trầm tư đượm nét buồn
Thường ngồi lặng lẻ lúc mưa tuôn
Bao nhiêu u ần chìm trong mắt
Sầu héo lên nhau tựa sóng cuồng
Ngày trước cha tôi rất đẹp trai
Phiêu lưu mạo hiểm những năm dài
Bốn vùng chiến thuật giày in gót
Nào biết giờ đây phải đắng cay
Cha tôi buồn lắm nhưng người dấu
Tối tối bên tôi cố mĩm cười
Kể lại tôi nghe ngày tháng cũ
Kỷ niệm buồn đau chốn ngục tù.”
(Cha tôi – Hoa Sơn)
Trong hoàn cảnh ly hương, lưu lạc phương trời,  nhiều người Việt Nam đã  không đựơc kề cận  mẹ  cha lúc tuổi già. Ước muốn cuối đời của cha mẹ  là được gặp mặt lại tất cả các con trước khi nhắm mắt. Đó là một ước mơ nhỏ bé, đơn giản nhưng nhiều người không thể thực hiện đựơc, đã để lại  niềm đau không nguôi  trong lòng không biết bao nhiêu nguời tha hương nhất là trong ngày nhớ ơn cha:
“Van cha, cứ thế, con ngồi lặng
Nói sao, hà cớ chẳng về thăm
Thâm ân cha mẹ cho đời sống
Cân thước đâu đo nỗi vô cùng
Lỡ có là chim, còn hiểu được
Vì đâu biền biệt tận chân mây
Làm kiếp người sao con chọn nghiệp
Dang cánh bay tít tắp đường dài"
Sớm nay tin vội: Cha yên ngủ
Nhắm mắt rồi chưa thấy mặt con
Mơ hồ nghe tiếng cha trong gió
Con con ơi  bất hiếu chưa từng!
Cố dõi mắt trông  ngoài vô tận
Thấy gì đâu người khuất núi xa
Chỉ thấy bóng con đầu cúi xuống
Tay run run bưng mặt đầm đìa
Hồn thương tiếc gữi cùng nhang khói
Tro bụi: cha, vừa rắc xuống sông
Nước chảy dòng xuôi hay ngược lại
Cha còn nghe tiếng thở dài con"
“Cha Còn Nghe Tiếng Thở Dài Con"”  ( Nguyên Nghĩa)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.