Hôm nay,  

Ngợi Ca Thị Trường

24/02/201000:00:00(Xem: 11133)

Ngợi Ca Thị Trường

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...càng thu hẹp vận hành của thị trường lại càng tạo ra bất công xã hội...

Mọi chuyện khởi đầu hai năm về trước, khi tập đoàn đầu tư Bear Sterns của Hoa Kỳ vỡ nợ vào tháng Ba năm 2008 và bị bán tháo cho JP Morgan Chase. Rồi khủng hoảng lên tới cao điểm vào tháng Chín năm đó với sự sụp đổ của hàng loạt cơ sở tài chính Mỹ như Lehman Brothers, AIG, Fannie Mae và Freddie Mac... Từ Hoa Kỳ, vụ khủng hoảng tài chính lan rộng và gây hốt hoảng toàn cầu khiến người ta hoài nghi quy luật thị trường và nguyên tắc tự do kinh tế. Nhiều chính quyền phải trực tiếp can thiệp vào thị trường để cứu vãn tình hình. Hai năm sau, người ta bắt đầu thấy ra là kinh tế thế giới chỉ bị suy trầm toàn cầu chứ không bị khủng hoảng. Nhưng mối hoài nghi nguyên tắc tự do kinh tế thì vẫn còn, và vẫn còn ảnh hưởng đến chính sách kinh tế của nhiều quốc gia. Nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa nêu quan điểm ngược trong phần trao đổi của mục Diễn Đàn Kinh Tế đài RFA do Việt Long thực hiện sau đây. Rằng người ta không nên vì hốt hoảng mà vội xoá bỏ thị trường và phạm nhiều sai lầm khác về chính sách.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Hai năm sau vụ sụp đổ của tập đoàn đầu tư Bear Sterns tại Hoa Kỳ và những chấn động lan rộng cho kinh tế toàn cầu, người ta có thể nói là thế giới hú vía vì không bị một vụ Tổng khủng hoảng như đã xảy ra 80 năm về trước. Tất cả chỉ là một vụ suy trầm toàn cầu như ông trình bày cuối năm ngoái. Nhưng, nếu nhìn lại toàn cảnh trong viễn ảnh dài thì chúng ta có nên đưa kinh tế thị trường ra trước vành móng ngựa không" Vì dù sao, những bấp bênh của thị trường hay bất cẩn hoặc thậm chí sự bất lương của nhiều doanh gia đã dẫn tới tình trạng suy sụp chung mà nạn nhân chính yếu vẫn lại là dân nghèo ở khắp nơi. Đánh dấu hai năm của vụ khủng hoảng tài chính Mỹ, từ chuyện tổ hợp Bear Sterns vỡ nợ vào tháng Ba năm 2008, chúng tôi muốn mở lại hồ sơ này. Ông nghĩ sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là nhờ thời gian lắng đọng, chúng ta rất nên mở lại hồ sơ ấy để đừng phạm nhiều sai lầm cũ. Sai lầm tai hại nhất là vì nạn suy trầm toàn cầu mà nhiều người hết tin tưởng vào quy luật thị trường, nhiều chính quyền còn can thiệp nặng nề hơn và gây nhiều tổn thất kinh tế cho người dân. Vụ tập đoàn đầu tư hạng thứ tư của Mỹ Bear Sterns vỡ nợ và phải bán tháo là "con hoàng yến chết trong hầm mỏ", tức là chỉ dấu báo hiệu tai họa, nhưng không là chỉ dấu duy nhất, mà cũng chẳng là nguyên nhân....
Việt Long: Xin ngắt lời ông ngay tại đây. Ông ví chuyện Bear Sterns với "con hoàng yến chết trong hầm", ẩn dụ ấy có nghĩa là gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đây là điều ta cũng nên nhớ vì truyền thông kinh tế thường hay sử dụng. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, người ta chưa có phương tiện kỹ thuật hiện đại để phỏng đoán tai nạn. Vào thế kỷ 19, giới khai thác than đá tại Anh và Mỹ thường đem theo chim hoàng yến xuống hầm. Khi thấy chim chết, họ có thể đoán là trong hầm có hơi độc chết người, như thán khí hoặc chất mêtan không mùi vị, để kịp ra khỏi hầm trước khi tai họa xảy ra. Sau đấy, giới kinh tế dùng chuyện ấy làm ẩn dụ để nói về chỉ dấu dù nhỏ nhoi mà báo hiệu chấn động lớn.
- Thật ra, con hoàng yến đầu tiên báo hiệu khủng hoảng tài chính là ngân hàng Northern Rock của Anh bị vỡ nợ từ ngày 14 tháng Chín năm 2007 vì tín dụng gia cư sụp đổ, và kéo theo nhiều ngân hàng Âu châu khác. Nghĩa là chỉ dấu đã manh nha từ một năm trước, và từ Âu Châu. Ngày nay mà các ngân hàng Âu Châu vẫn chưa ra khỏi khó khăn thì cũng do nguyên nhân của khủng hoảng nằm trong nội tạng của kinh tế Âu Châu chứ không vì bị lây bệnh từ Hoa Kỳ.
Việt Long: Bây giờ mà nhìn lại thì ta rút tỉa được những bài học gì mà ông nói rằng không nên đổ tội cho kinh tế tự do"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Giờ đây mà nhìn lại thì chúng ta thấy thế giới đã từng trôi vào chu kỳ suy trầm toàn cầu rất nhiều lần. Theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế được hầu hết các nước cùng áp dụng thì suy trầm toàn cầu - hay global recession - xảy ra khi tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế thế giới chỉ đạt mức tối đa là 3% một năm. Nếu đo lường như vậy thì từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới và hội nhập vào thị trường thế giới, thế giới đã bị bốn đợt như vậy, trung bình thì cứ tám chín năm lại bị một lần. Vì vậy người ta mới gọi là chu kỳ, là hiện tượng thường tái diễn một cách định kỳ. Về cụ thể thì thế giới có bốn đợt suy trầm: 1990-1993, rồi 1998-1999, rồi 2000-2001. Mới nhất là vụ suy trầm 2008-2009.
Việt Long: Tuy nhiên, tình hình nhiều nơi vẫn chưa mấy khả quan hoặc còn quá nhiều bất trắc, cho nên người ta có quá lạc quan không khi nói rằng suy trầm đã hết"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Khi ta nói rằng chấn động rộng lớn vừa qua chỉ là một chu kỳ "suy trầm toàn cầu", hay "tổng suy trầm", thì đấy cũng là nhận định mà có người cho là lạc quan vì tin rằng tình hình thực tế còn quá u ám ở nhiều nước - ví dụ điển hình là Âu Châu mà diễn đàn này có đề cập tới ngay trước Tết Nguyên đán. Tức là nhân loại chưa ra khỏi hầm tối để thấy ánh sáng của hồi phục kinh tế.
- Tuy nhiên, nếu xét kỹ thì ta có thể thấy là nhiều quốc gia vẫn chưa thoát khỏi cảnh bấp bênh bất trắc như ông vừa hỏi chính là vì các "liều thuốc đổ bệnh", nôm na là bị hiệu ứng từ chính kế hoạch cứu nguy kinh tế. Cũng vì vậy mà bây giờ ta mới nên cảnh giác.
Việt Long: Nếu vậy, xin ông nói qua về những liều thuốc đổ bệnh ấy trước khi giải thích vì sao tự do kinh tế vẫn có giá trị và nhân loại đừng vội dẹp kinh tế thị trường.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Câu chuyện rất dài nên tôi chỉ xin trình bày rất đại lược về một số ví dụ tiêu biểu mà thôi.


- Trước hết, Nhật đã bị bể bóng đầu tư về địa ốc và chứng khoán đúng 20 năm trước mà chưa ra khỏi khủng hoảng và nay vẫn lại bị suy trầm nữa. Lý do bong bóng là thất quân bình từ cơ chế vĩ mô khiến mặt trời lặn quá lâu trên đất nước của Thái dương Thần nữ. Sau đó, ách tắc chính trị và nếp văn hoá muốn duy trì sự ổn định bằng mọi giá khiến Nhật Bản không dám cải cách mạnh cho kinh tế thêm tự do mà cứ tiếp tục biện pháp tăng chi để cứu nguy nên bị mắc nợ quá nặng. Một nguyên nhân khách quan khác là hiện tượng lão hóa dân số khiến năng suất chưa kịp tăng.
- Trường hợp nguy kịch thứ hai là Âu Châu. Khủng hoảng sở dĩ bùng nổ vì sự lạc quan thái quá sau khi giải phóng và hội nhập Đông Âu và Trung Âu, và ngày nay tiếp tục hoành hành vì nhiều nước Tây Âu đã tăng chi quá sức vì chủ trương bao cấp kinh tế - là trường hợp của các nước Pháp, Bỉ, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và nhất là Hy Lạp đang trên mé bờ vỡ nợ. Đã thế, cơ chế pháp lý và chính trị của cả Liên hiệp Âu châu lẫn khối Euro không cho phép giới hữu trách có biện pháp cứu vãn thích đáng. Việc hai cường quốc kinh tế là Đức và Pháp còn bị đình công tuần này ngay vào lúc cần phối hợp kế hoạch cứu nguy Hy Lạp cho thấy nỗi khó khăn của họ. Căn bản nhất là trong cả hai trường hợp Nhật Bản và Âu Châu, chế độ bao cấp và giới hạn tự do kinh tế mới khiến họ khó ứng phó với một chu kỳ suy trầm.
Việt Long: Còn trường hợp của Hoa Kỳ, dù sao cũng là nền kinh tế thuộc loại tự do nhất, vì sao kinh tế xứ này vẫn còn gặp bất trắc sau khi đã hồi phục từ sáu tháng nay"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Hoa Kỳ gặp một vụ khủng hoảng chính trị ngay trong thời chiến.
- Khủng hoảng chính trị bùng nổ từ hai yếu tố song hành mà nhập làm một. Thứ nhất là sự chủ quan và thiếu kỷ luật của đảng Cộng Hoà khi chiếm đa số khiến dân Mỹ thất vọng. Thứ hai là sự lạc quan cũng chủ quan không kém của đảng Dân Chủ sau khi đại thắng trong hai cuộc bầu cử liền vào các năm 2006-2008. Sự lạc quan thái quá xảy ra khi dân Mỹ đang hốt hoảng khiến Chính quyền lầm tưởøng rằng có thể nhân cơn khủng hoảng mà tiến hành cải tạo xã hội thay vì tập trung vào việc cứu nguy kinh tế và tạo thêm công ăn việc làm cho dân chúng.
- Cơ chế chính trị linh động của Mỹ - hơn Nhật Bản và Âu Châu rất xa - khiến Ngân hàng Trung ương Mỹ có thể ráo riết áp dụng biện pháp tiền tệ để kinh tế ra khỏi suy trầm từ giữa năm ngoái. Nhưng các biện pháp cải tạo xã hội của chính quyền đã gây ách tắc chính trị và đánh sụt niềm tin của dân chúng - và của thị trường như ta vừa thấy hôm Thứ Ba 23 này - khiến thất nghiệp chưa thể giảm và sản xuất chưa tăng mạnh. Yếu tố chính ở đây là nhiều người dại dột kết án thị trường và trông chờ vào chính quyền, mà chính quyền thì không ưu tiên kích thích kinh tế vì nhắm vào những ưu tiên khác. Vì vậy mà kinh tế sẽ ảnh hưởng ngược vào chính trị và dẫn tới thay đổi trong kỳ bầu cử cuối năm nay.
Việt Long: Bây giờ ta tiến sang trường hợp Trung Quốc là nơi có đà tăng trưởng rất cao nhờ sự can thiệp của chính quyền vào thị trường. Ông giải thích ra sao về hiện tượng này"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trong chương trình tuần trước, chúng ta có nói đến "ảo ảnh chết người" của Trung Quốc khi mà đầu tư đóng góp tới 92% vào đà tăng trưởng 8,7% của xứ này, trong khi thị trường xuất cảng vẫn sa sút và tiêu thụ thì èo uột. Sự việc ấy cho thấy là nếu nhà nước không thò tay đẩy cỗ xe kinh tế thì kinh tế sẽ trì trệ. Nhưng nhà nước không là giải pháp mà là vấn đề vì khi bơm tiền đầu tư qua ngả tín dụng và tăng chi thì cũng lại thổi lên bong bóng đầu tư và tái phân lại lợi tức cho một thiểu số có chức có quyền. Vì vậy, kế hoạch kích thích kinh tế thật ra gây tác dụng ngược và càng thu hẹp sự vận hành của thị trường lại vừa tạo ra bất công xã hội, nên tích lũy những động lực ngầm của động loạn. Nói như vậy thì nhiều người ở Hà Nội có thể không tin, nhưng nếu so sánh với tình hình Ấn Độ là một xứ bị suy trầm nhẹ hơn và có tốc độ tăng trưởng cũng rất cao thì ta thấy ra sự khác biệt.
Việt Long: Ông giải thích cho sự khác biệt ấy là gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Sau Trung Quốc 10 năm, Ấn Độ đã tiến hành cải cách từ 20 năm trước và dưới một chính quyền thiên tả, bao cấp, của đảng Quốc Đại. Thực tế thì đấy là cuộc cách mạng về tư duy sau khi xứ này áp dụng mô hình tập trung quản lý trong mấy thập niên liền rồi hiểu ra sự thể khi Liên bang Xô viết khủng hoảng và tan rã. Kết quả là kinh tế đạt tăng trưởng từ 7 đến 9%. Chính quyền bảo thủ của đảng Quốc gia lên nắm quyền từ năm 2000 tiếp tục đường lối đó cho tới năm 2005 thì thất cử, nhưng liên minh do đảng Quốc đại thiên tả trở về cầm quyền cùng với đảng Cộng sản vẫn theo đuổi việc cải cách kinh tế cho thêm tự do. Căn bản nhất như ta thấy là xứ này kiên định lập trường bảo vệ quy tắc dân chủ và khi bị suy trầm vẫn không áp dụng lại các biện pháp bao cấp thời xưa. Thành tích ấy ít được thế giới chú ý nhưng thật ra rất đáng cho Việt Nam nghiên cứu.
- Nói chung, kinh tế thị trường có thể gây nhiều xáo trộn hầu như định kỳ nhưng trong một bối cảnh tăng trưởng và phát triển khả quan hơn. Việc nhà nước can thiệp để điều chỉnh cơ chế và kích thích sản xuất là cần thiết. Nhưng, nếu vì những xáo trộn ấy mà nhà nước lại thu hẹp sự vận hành của quy luật thị trường để chủ động tái phân lợi tức và bố trí tài nguyên quốc gia thì kinh tế sẽ khó tăng trưởng. Và sẽ càng không thể phát triển vì những bất công và lệch lạc xuất phát từ chính nhà nước. Sau một trận suy trầm toàn cầu mà nhắc lại chuyện này thì không là vô ích.
Việt Long: Xin cám ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.