Hôm nay,  

Tranh Chấp Vì Năng Lượng

12/1/200400:00:00(View: 14955)
Điều mà mấy năm trước dư luận chưa thấy là năng lượng đã thành đầu mối tranh chấp ngoài Đông hải và có khi là đầu mối xung đột trong tương lai dăm ba năm tới đây. Việt Nam sẽ ra sao"
Phóng viên Việt Long của đài RFA đã phỏng vấn kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về đề tài nóng bỏng này như sau.
Hỏi: Thưa ông, trong những ngày qua, Việt Nam chính thức phản đối việc Trung Quốc đưa một dàn khoan dầu vào vùng quần đảo Hoàng Sa mà quốc tế gọi là Paracels Island và Trung Quốc gọi là Nam Sa. Nhìn từ giác độ kinh tế, ông nghĩ sao về biến cố này"
-- Tôi nghĩ rằng đây là biến cố nghiêm trọng, với nguyên nhân là kinh tế nhưng hậu quả có thể là tranh chấp thậm chí xung đột trong vùng Đông hải. Nguyên nhân kinh tế vì từ mấy năm nay, các nước Đông Á đều có nhu cầu lớn về năng lượng, đặc biệt là dầu hỏa và khí đốt, mà họ tin là Đông hải có trữ lượng dồi dào nên xứ nào cũng muốn khai thác. Vấn đề đáng cho dư luận Việt Nam chú ý vì khu vực này có hai quần đảo xưa kia lãnh thổ Việt Nam, từ ba chục năm nay lại bị Trung Quốc rồi một số quốc gia khác đòi giành chủ quyền hoặc từng phần hoặc toàn phần. Việt Nam càng chú ý đến việc ấy vì hôm 19 Bắc Kinh đưa một dàn khoan từ Thượng Hải xuống dự tính khai thác tại quần đảo Hoàng Sa mà họ cưỡng đoạt khi tấn công hải quân Việt Nam Cộng Hoà năm 1974. Từ đó đến nay, Việt Nam và Trung Quốc có thêm hai lần đụng độ, vào các năm 1988 rồi 1992, vì tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa, còn cách xa hơn ranh giới của Trung Quốc rất nhiều ở phía Nam. Lần này, địa điểm Trung Quốc tính khai thác tại Hoàng Sa lại cách biên giới Việt Nam có khoảng 116 cây số và cách phía cực Nam đảo Hải Nam của Trung Quốc có 123 cây số nên dư luận mới lo về nguy cơ đụng độ.
Hỏi: Ông tin rằng nguyên nhân của những tranh chấp này là vấn đề năng lượng sao"
-- Ít ra, đấy là nguyên do chính. Từ năm 1999 sau khi ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Á, các nước trong khu vực cần nhiều năng lượng cho sản xuất, bình quân tăng gấp hai, tức là trong năm năm liền, mỗi năm gia tăng tích lũy khoảng 14%. Trường hợp Trung Quốc còn đáng kể hơn, từ năm 2001 đến nay, số cầu về năng lượng của họ tăng gấp bảy chứ không phải gấp đôi. Với những bất ổn tại Trung Đông và giá dầu thô đã mấp mé 50 đô la một thùng, thì dầu thô trở thành sinh tử cho kinh tế nên việc tìm dầu trở thành một ưu tiên trước đây chưa có hoặc chưa thấy. Từ mấy năm qua, Bắc Kinh trù tính ký kết với 27 quốc gia khác nhau trên thế giới để bảo đảm nguồn cung cấp dầu thô và khí đốt, kể cả với xứ Iran vào cuối tháng trước.
Hỏi: Trước đây, các nước liên hệ trong vùng Đông Nam Á đã có đụng độ vì tranh chấp chủ quyền nhưng sau đấy đã dàn xếp quy tắc xử lý ôn hoà theo tinh thần cùng khai thác về kinh tế, vì sao giờ này tình hình lại có vẻ căng thẳng hơn"
-- Đây là câu chuyện dài với diễn biến có thay đổi. Sau hai lần xung đột mà đều thua, Việt Nam thấy là phải có sức mạnh mới bảo vệ được chủ quyền nên năm 1994 đã mua chiến đấu cơ tầm xa loại Sukhoi 27 của Liên bang Nga để chống lại chiến đấu cơ cùng loại ấy mà Trung Quốc cũng mua của Liên xô từ năm 1991. Nói chung, cả hai đều mua võ khí của Nga, kể cả loại hỏa tiễn SS-N-22 để chống chiến hạm, nhưng Bắc Kinh có phương tiện trang bị dồi dào hơn nên mua cả loại Sukhoi 30 và tầu ngầm và Việt Nam bị yếu thế dù đã đầu tư rất tốn kém so với khả năng. Đây là ta chưa nói đến nhiều thua thiệt khác trên đất liền và ngoài vịnh Bắc bộ qua hai Hiệp định tai tiếng đã lén lút ký kết với Bắc Kinh mà không muốn cho dân chúng biết.
Vì Việt Nam yếu thế và mất đứt Hoàng Sa, bốn xứ khác cũng đòi chủ quyền hoặc toàn phần hoặc từng phần trên quần đảo Trường Sa. Đó là Đài Loan, Philippines, Brunei và Malaysia. Nhưng, dù đòi như vậy, họ không trực diện tranh chấp với Trung Quốc và ngược lại còn bị khuyến dụ là hợp tác tay đôi để khai thác quần đảo một cách ôn hoà và cùng có lợi. Giải pháp ấy là do Trung Quốc đưa ra theo tinh thần hoãn binh để bẻ đũa từng chiếc vì họ đề nghị là 50 năm nữa mới bàn về chuyện chủ quyền, chứ trước mắt thì hãy cùng nhau hợp tác. Năm mươi năm nữa thì nước nào còn đủ sức đòi"
Hỏi: Và dần đây, hình như Philippines đã bọc xuôi theo đề nghị ấy phải không"
-- Thưa vâng, ta cần nhớ là đầu năm 1999, Manila có yêu cầu Hoa Kỳ can thiệp trong vụ tranh chấp Trường Sa với Bắc Kinh, nhưng chính quyền của Tổng thống Bill Clinton khi ấy chỉ đồng ý tham dự một hội nghị quốc tế về Trường Sa nếu có, chứ cũng không muốn bị lôi kéo vào cuộc. Ngày nay, ưu tiên của Hoa Kỳ còn đổi thay mãnh liệt hơn vì cuộc chiến chống khủng bố, cho nên, đầu tháng Chín vừa rồi, Tổng thống Philippines là bà Gloria Macapagal-Arroyo đã ký kết với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào một loạt thỏa ước cùng tìm kiếm và khai thác dầu khí tại Trường Sa. Đây là một thắng lợi ngoại giao của Bắc Kinh vì lần đầu tiên đạt thỏa thuận với một nước Đông Nam Á có tranh chấp về Trường Sa và vô hình chung cô lập Việt Nam trong khu vực này.
Hỏi: Nhưng nếu các nước nhỏ không thể đương đầu khi gặp tranh chấp với Trung Quốc thì cũng có thể hợp tác với các nước lớn để cân bằng thế lực nữa chứ"
-- Thưa vâng, chẳng hạn như việc nhiều doanh nghiệp dầu khí Nhật Bản đã liên doanh với Petrovietnam làm Bắc Kinh cũng lên tiếng phản đối. Tuy nhiên, nói đến hợp tác với các nước khác thì có lẽ Trung Quốc già đòn hơn Việt Nam và Hà Nội có khi vừa bị hố nặng trong hội nghị thượng đỉnh ASEM vừa rồi mà dư luận lại không biết.

Hỏi: Xin ông cho biết sự thể này ra sao"
-- Vừa rồi, giới lãnh đạo Việt Nam biểu dương thành tích ngoại giao khi mỹ mãn tổ chức Thượng đỉnh ASEM kỳ bốn tại Hà Nội vào đầu tháng 10. Thực ra đấy là thành quả biểu kiến khi Tổng thống Pháp Jacques Chirac tham dự và nói chuyện với lãnh đạo Bắc Kinh. Chứ ngay tại Hà Nội, phái đoàn Chirac đã đạt nhiều hợp đồng lên tới hơn bốn tỷ đô la với Trung Quốc trước khi ông Chirac đến Bắc Kinh rồi đi Thượng Hải và nhiều tỉnh khác của Hoa Lục. Ngoài các hợp đồng mua máy bay hay xe lửa, còn có các dự án năng lượng, kể cả năng lượng nguyên tử với 32 lò hạch tâm sẽ thiết kế trong 15 năm tới. Đáng chú ý là các tập đoàn dầu khí Pháp, nhất là tổ hợp TotalFinaElf, sẽ giúp Trung Quốc công nghệ khai thác dầu khí ngoài khơi. Vì vậy, khi ông Chirac mượn chuyện văn hoá để gián tiếp đả kích Hoa Kỳ thì Hà Nội lại tạo điều kiện cho Pháp và Trung Quốc đạt một số mục tiêu kinh tế. Nếu có ngày Pháp giúp Bắc Kinh khai thác kỹ nghệ dầu khí ngoài Đông hải thì Việt Nam càng gặp bất lợi hơn. Nếu trong hợp tác với các tập đoàn quốc tế mà doanh nghiệp Việt Nam vẫn bị tham nhũng đục khoét làm dự án đầu tư kém hiệu năng thì các nước khác càng thấy làm ăn với Trung Quốc là có lợi hơn và an toàn hơn. Mối lợi biểu kiến hay cục bộ lại gây thiệt hại lớn lao và lâu dài là điều mà dư luận có khi không biết, và những người trong cuộc có khi bất cần.
Hỏi: Trở lại chuyện khai thác dầu khí tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo ông dự đoán thì tình hình sẽ biến chuyển ra sao"
-- Tôi thiển nghĩ là có một số yếu tố khiến khu vực Đông hải và toàn vùng Đông Nam Á sẽ gặp bất ổn trong mấy năm tới, thậm chí nguy cơ đụng độ có thể xảy ra. Thứ nhất, Trung Quốc đang có xu hướng trở thành cường quốc đại dương thay vì chỉ là cường quốc đại lục như suốt sáu trăm năm qua. Giờ đây, nhu cầu năng lượng rất lớn càng đẩy mạnh việc Bắc Kinh bành trướng ảnh hưởng để bảo vệ quyền lợi sinh tử của mình. Thứ hai, qua năm tới và mấy năm kế tiếp, Trung Quốc có thể gặp khủng hoảng kinh tế dẫn tới khủng hoảng chính trị, và đó là rủi ro lớn cho các lân bang. Thứ ba, vì vậy các nước Đông Nam Á đều tăng cường binh bị để phòng ngừa và toàn vùng có thể sẽ thấy tái xuất hiện một cuộc thi đua võ trang. Thứ tư, trong lúc đó, Hoa Kỳ tập trung giải quyết vấn đề ưu tiên là cuộc chiến chống phong trào Hồi giáo quá khích ngụy danh Thánh chiến nên toàn vùng có thể nhất thời thiếu mất một sức mạnh gián chỉ, một sức mạnh can ngăn, cho nên rủi ro xung đột vì Trường Sa và Hoàng Sa càng dễ xảy ra.
Hỏi: Dù sao, trong vùng Đông Á, ta còn phải kể đến một đại cường khác là Nhật Bản nữa, ông nghĩ sao về vai trò của cường quốc này"
-- Nhật Bản cũng cần năng lượng, không kém gì Trung Quốc, và từ vài năm nay đã bày tỏ ý chí đảm đương một vai trò quốc tế ngày một chủ động hơn, trong đó có cả việc can thiệp về quân sự nằm ngoài lãnh thổ. Tại Thượng đỉnh APEC 10 ngày trước của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á châu Thái bình dương, Thủ tướng Nhật Junichiro Koizumi đặc biệt có thái độ rất cứng rắn với Liên bang Nga về tranh chấp chủ quyền trên dãy đảo Kurile vùng cực Bắc mà Liên xô đã cưỡng đoạt nhân cái đà bại trận của Nhật vào tháng Tám năm 1945. Ông Koizumi cũng không giấu diếm sự bực bội với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào về việc tầu ngầm Trung Quốc đã xâm nhập hải phận Nhật hồi đầu tháng. Dư luận để ý thấy một điều là lãnh đạo Bắc Kinh rất ôn hoà nhã nhặn với Nhật. Cách đây đúng hai tuần, Thứ trưởng Ngoại giao Bắc Kinh chính thức bày tỏ sự ân hận là đã để xảy ra vụ tầu ngầm đi lạc vào hải phận Nhật vì bị trục trặc kỹ thuật! Bắc Kinh có thái độ rất khéo là mềm nắn rắn buông, vì cùng lúc ấy lại rất cương quyết và cứng rắn với các nước nhỏ yếu. Do đó, nếu hữu sự thì các đại cường có khi sẽ tránh đối đầu trực tiếp và các nước nhỏ có thể bị hy sinh, như người ta đã từng thấy tại Á châu từ sau Thế chiến II. Lầm lẫn của quá khứ có khi sẽ lại tái diễn trong vòng năm năm tới.
Hỏi: Câu hỏi cuối, thưa ông Việt Nam nên làm gì trong hoàn cảnh ấy"
-- Thật khó trả lời ngắn gọn, nhưng tôi thiển nghĩ là trước nhất, Việt Nam phải ý thức được một thực tế phũ phàng mà lãnh đạo Pháp là tướng de Gaulle đã nói năm xưa, rằng các quốc gia là những quái vật lạnh lùng, chỉ vận hành vì quyền lợi. Nghĩa là lãnh đạo Việt Nam phải coi quyền lợi quốc gia là tối thượng, thay vì chỉ ưu lo cho sự tồn tại của chính mình, hoặc của đảng cầm quyền. Thứ hai, phải mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, kể cả các cường quốc trong vùng, mà đừng nghĩ đến chuyện móc túi kiếm lời cục bộ. Thứ ba, dù có khó khăn thì cũng nên tăng cường hợp tác với các nước ASEAN tại Đông Nam Á để có một thế phối hợp chung đối với Trung Quốc thay vì để bị bẻ đũa từng chiếc. Thứ tư, cần thấy Hoa Kỳ vẫn là siêu cường Á châu và Việt Nam nên cải thiện quan hệ cho tốt đẹp hơn, kể cả về mặt kinh tế hầu vì quyền lợi của họ, Hoa Kỳ sẽ có tiếng nói thuận tiện hơn cho phía mình. Nói vậy không có nghĩa là dựa vào Hoa Kỳ như một đồng minh để chống lại Trung Quốc. Sau cùng, phải nhấn mạnh đến việc xây dựng thế đoàn kết quốc gia vì quyền lợi quốc gia, thay vì chỉ nghĩ đến việc lợi dụng sự đoàn kết hình thức, biểu kiến, để củng cố sức mạnh của một đảng độc tài. Lịch sử cho thấy là các chế độ độc tài đều bất lực khi gặp thách đố từ bên ngoài.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.