Hôm nay,  

Hiệu Ứng Hoa Kỳ

09/10/200800:00:00(Xem: 8397)

<"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /> 

 

Nguyễn Xuân Nghĩa & RFA

 

... Hoa Kỳ và Âu châu co cụm thì VN sẽ xuất khẩu ít hơn nữa, bị nhập siêu nặng hơn nữa...

 

Kế hoạch cứu nguy tài chính được Hoa Kỳ ban hành Thứ Sáu mùng ba vừa qua đã không kịp ngăn được suy trầm kinh tế Mỹ. Trong hoàn cảnh đó, kinh tế toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng ra sao" Diễn đàn Kinh tế đài RFA kỳ này sẽ tìm hiểu về viễn ảnh đó qua cuộc trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả.

 

Hỏi: Xin kính chào ông Nghĩa. Cuộc khủng hoảng tài chính đã gây họa cho kinh tế Hoa Kỳ và có thể kéo dài những khó khăn hiện tại. Đấy là lời cảnh báo trưa Thứ Ba mùng bảy của Chủ tịch hệ thống Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ là ông Ben Bernanke. Trong hoàn cảnh đó, xin đề nghị là chương trình kỳ này tìm hiểu xem kinh tế toàn cầu bị hiệu ứng thế nào. Ông nghĩ sao"

 

- Thưa chúng ta có ba loại vấn đề chồng chéo lên nhau. Trước hết là khủng hoảng tài chính tại Mỹ đã gây ra nạn cạn kiệt tín dụng vào thời điểm bất lợi nhất là hoàn cảnh kinh tế bấp bênh của Hoa Kỳ nên nạn suy trầm kinh tế có thể xảy ra. Suy trầm có thể sẽ kéo dài nếu kế hoạch cấp cứu tài chính được ban hành hôm Thứ Sáu mùng ba của tuần trước không sớm có tác dụng. Đấy là vấn đề tạm gọi là của Mỹ. Thứ hai, các khối kinh tế lớn còn lại cũng có nhiều vấn đề nội tại về tài chính và kinh tế nên ta sẽ bị hiện tượng cộng hưởng, là khuếch đại tai họa như một vòng xoáy đi xuống. Và thứ ba, hiệu ứng Hoa Kỳ trong bối cảnh suy trầm toàn cầu sẽ tác động vào mỗi nơi một khác, là điều có lẽ mình cũng cần phân tích khi nghĩ tới Việt Nam.

 

Hỏi: Như vậy, ta bắt đầu bằng vấn đề của Hoa Kỳ. Nền kinh tế này bắt đầu hay đang bị suy trầm phải không"

 

- Có lẽ như vậy thưa ông. Theo định nghĩa, suy trầm xảy ra khi đà tăng trưởng sản xuất sút giảm liên tục trong hai quý, tức là trong sáu tháng liền. Nặng hơn thì có nạn suy thoái, hay depression, là khi sản xuất không tăng dù ít đi mà còn giảm liên tục, và nếu suy thoái lan rộng qua nhiều lãnh vực thì mới gọi là khủng hoảng. Vì không chịu khó phân biệt ba trình độ nguy ngập khác nhau mà cứ dùng chung một chữ là "khủng hoảng", người ta có thể gieo họa vì gây hốt hoảng tâm lý.

 

- Cho đến tháng 10 này, kinh tế Hoa Kỳ đã tăng trưởng liên tục kể từ đầu năm 2002, dù không cao thì vẫn có tăng trưởng. Thông thường, sau sáu năm tăng trưởng như vậy, thể nào kinh tế cũng sẽ có sự điều chỉnh của chu kỳ kinh doanh, là nạn suy trầm, bình quân thì trong khoảng gần một năm. Vì vậy, vào thời điểm bản lề mà người ta đang sợ suy trầm, vụ khủng hoảng tài chính lại bùng nổ, nên kinh tế Mỹ bị trôi vào nạn suy trầm. Nặng hay nhẹ và lâu hay mau và có thành suy thoái không thì ta chưa biết được, và lời cảnh báo của người am hiểu là Thống đốc Ben Bernanke phải được xem là một thông tin xác đáng nhất về viễn ảnh trước mắt. Khi ông ta hàm ý rằng Hoa Kỳ có thể sẽ phải hạ lãi suất ngắn hạn để đối phó thì thị trường chứng khoán Mỹ lập tức sụt giá mạnh vì rút kết luận rất bi quan về tương lai trước mắt.

 

Hỏi: Người ta còn có cách dự đoán nào không, thay vì phải chờ đợi thống kê kinh tế của từng quý, ba tháng mới có một lần, về những gì đã xảy ra trước đó"

 

- Thưa có rất nhiều. Thí dụ như Thứ Năm tuần trước có thống kê về số hàng bền, loại hàng hóa có đời sống kinh tế kéo dài trên ba năm, vì số hoá đơn đặt hàng bền đã giảm nên ai cũng có thể kết luận là tình hình sẽ đen tối hơn. Qua Thứ Sáu, lại có thống kê về nhân dụng, với số người bị mất việc tăng mạnh hơn mọi dự đoán. Hai yếu tố ấy mới khiến cổ phiếu sụt giá mạnh hôm Thứ Sáu, dù Hạ viện Mỹ đã chấp nhận kế hoạch cứu nguy vừa bị bác hôm Thứ Hai đầu tuần.

 

- Ngoài ra, ta cũng có thể theo dõi chỉ số Dow Jones của doanh nghiệp vận chuyển, gọi là Dow Jones Transportation Average hay DJTA, nó tổng hợp kết quả kinh doanh của hai chục công ty vận chuyển hàng hoá và hành khách. So với đỉnh cao vào ngày năm tháng Sáu thì đã sụt hơn 30%, từ 5.500 điểm nay tuột dưới 3.900 điểm. Khi sụt quá 20% thì đầy là dấu hiệu trào lưu "thăng" đã chuyển thành "giáng", và là cảnh báo rằng lượng hàng hoá vận chuyển sẽ ít đi, tức là sản xuất sẽ giảm trong tương lai. Chưa kể là cổ phiếu sụt giá đồng loạt đã gây ra "hiệu ứng phồn thịnh ngược" là khi ta thấy bị nghèo đi thì càng tiết giảm chi tiêu và càng dễ đưa tới suy trầm.

 

Hỏi: Bây giờ, mình qua phần hai là vấn đề nội tại của các khối kinh tế khác khiến hiệu ứng Hoa Kỳ có thể gây tác dụng cộng hưởng như ông nói.

 

- Ách tắc chung của các đầu máy kinh tế lớn trên thế giới là nạn cạn kiệt tín dụng. Tại Âu châu, tình trạng này còn nguy ngập hơn tại Mỹ vì nhiều yếu kém trong hệ thống ngân hàng Âu châu. Đã thế, khối kinh tế của 27 quốc gia, trong đó có khối Euro của 15 nước dùng chung đồng Euro, lại không thể ứng phó linh động và mau lẹ như Ngân hàng Trung ương hay bộ Ngân khố Hoa Kỳ vì cần sự đồng ý của tất cả các quốc gia hội viên. Thất bại sau "thượng đỉnh" bốn nước Anh, Đức, Pháp, Ý vào Thứ Bảy tuần trước khiến Âu châu không thể có đối sách thống nhất mà xứ nào đành cứu lấy ngân hàng của xứ đó. Đã thế, kinh tế Âu châu lại đang bị suy trầm trong thực tế cho nên tình hình sẽ còn bi đát hơn. Dù Ngân hàng Trung ương có thể phải hạ lãi suất, cục diện Âu châu vẫn có nhiều bất lợi, có thể còn nặng hơn Mỹ. Đó là lý do vì sao đồng Euro sụt giá mạnh so với tiền Mỹ, dù Mỹ đang bị khủng hoảng tài chính.

 

Hỏi: Thế còn trường hợp Nhật Bản, tình hình có khả quan hơn chăng, khi các ngân hàng Nhật đã tung tiền cấp cứu các ngân hàng bị nạn tại Hoa Kỳ và đồng Yen lên giá"

 

- Nhật Bản có hoàn cảnh khác do chinh sách duy trì lãi suất cực thấp rất lâu để kích cầu. Hậu quả là doanh nghiệp Nhật đem đồng Yen rất rẻ đi đầu tư nơi khác để có lời cao hơn. Bây giờ khi nơi khác bị động, họ phải bán tháo và mua lại tiền Nhật khiến đồng Yen lên giá một cách bất thường. Nhưng, hậu quả là hàng Nhật sẽ khó cạnh tranh hơn và hệ thống ngân hàng Nhật sẽ bị rung chuyển còn nặng hơn vụ khủng hoảng vì tín dụng thứ cấp tại Hoa Kỳ.

 

- Nói chung thì cả ba đầu máy kinh tế mạnh nhất thế giới là Mỹ, Nhật, Âu đều đang bị nạn cùng lúc nên không ai cứu được ai và kinh tế toàn cầu sẽ bị suy trầm nặng. Chúng ta không có thời giờ phân tích tình hình Trung Quốc, là một vấn đề nguy ngập khác, vì mình còn phải nhìn qua hậu quả đối với Việt Nam.

 

Hỏi: Thưa đúng như vậy, và dù truyền thông tại Việt Nam có thể tránh nói nhiều đến khủng hoảng tại Mỹ để khỏi gây hốt hoảng, nhưng người ta cho rằng lãnh đạo xứ này rất quan tâm đến nguy cơ ấy. Cho nên Việt Nam sẽ bị hiệu ứng như thế nào"

 

- Kinh tế Việt Nam quá lệ thuộc vào ngoại thương và khả năng xuất khẩu. Khi toàn cầu bị suy trầm và hai thị trường lớn nhất của hàng hoá Việt Nam là Hoa Kỳ và Âu châu bị co cụm thì Việt Nam sẽ xuất khẩu ít hơn nữa, bị nhập siêu nặng hơn nữa từ cuối năm nay qua hết năm sau.

 

- Thứ hai, Việt Nam trông cậy vào đầu tư nước ngoài và lượng kiều hối từ ngoài trút vào, lượng tiền đó sẽ khan hiếm hơn và sản xuất của Việt Nam sẽ sút giảm mạnh. Đà tăng trưởng kinh tế có thể sụt dưới 6%, thậm chí chỉ còn chừng 5% như Ngân hàng Phát triển Á châu đã cảnh báo.

 

- Kết hợp hai vấn đề ấy thì Việt Nam có thể bị khủng hoảng về ngoại hối vì đồng bạc sẽ mất giá mạnh khi Mỹ kim tăng giá và sẽ còn tăng nữa trong khi mọi người cứ đoán lầm rằng vì kinh tế Mỹ sa sút đô la Mỹ sẽ sụt giá. Hôm nay Thứ Ba, một số nguồn tin ngân hàng quốc tế cho biết là Việt Nam vừa kín đáo chuyển tài sản ngoại tệ từ các nơi khác về hai thị trường Singapore và Hong Kong. Đấy cũng là một chỉ dấu rất đáng chú ý.

 

Hỏi: Nghĩa là Việt Nam cũng có thể bị ảnh hưởng trực tiếp từ vụ khủng hoảng tài chính đang hoành hành tại Mỹ hay sao"

 

- Thưa rằng không vì hệ thống tài chính và ngân hàng của Việt Nam còn thô sơ, chưa hội nhập thật sâu vào hệ thống ngân hàng ngoại quốc, từ Đông Á tới Hoa Kỳ. Nhưng ảnh hưởng gián tiếp thì tất nhiên là có, qua trung gian ta gọi là "chuyển lực" của các nước Đông Á, từ Đông Bắc xuống Đông Nam Á. Nói chung, khủng hoảng tại Mỹ khiến các nước này đều bị khó khăn và có khi bị khủng hoảng về ngoại hối. Việc Chính quyền Nam Hàn phải trấn an dư luận rằng xứ này còn dự trữ ngoại tệ đến 240 tỷ Mỹ kim là một tín hiệu rất đáng ngại. Mà Đông Á vốn cũng là các thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam sau thị trường Trung Quốc.

 

- Trong khi ấy, mình không quên nguy cơ lạm phát vẫn còn rất cao, dù có giảm đôi chút trong tháng Chín thì vẫn là gần 28%. Vì vậy, lãi suất cho vay của Việt Nam chưa thể giảm và hàng loạt doanh nghiệp lẫn ngân hàng có thể vỡ nợ trong mấy tháng tới. Nhiều ngân hàng gặp khó khăn đã muốn giảm lãi suất ký thác phải trả cho trương chủ, và nhiều ngân hàng khác thật ra vẫn còn thanh khoản mà hết dám cho vay, tức là cũng gây ra hiện tượng cạn kiệt tín dụng vì tâm lý bất an như ta đang thấy tại Mỹ. Nếu Việt Nam hạ lãi suất để kích cầu hầu tránh nạn suy trầm thì lại dễ gây ra lạm phát. Bài toán của Việt Nam vì vậy rất khó giải quyết và mọi người mà án binh bất động để chờ bão nổi thì trận bão càng dễ xảy ra.

 

Hỏi: Câu hỏi cuối, thưa ông, những hoạn nạn này có thể kéo dài bao lâu và liệu Hoa Kỳ có thể bị một trận Tổng khủng hoảng như thời 1930 hay không"

 

- Kéo dài lâu hay chậm thì còn tùy vào tâm lý của thị trường và của người Mỹ, trong tình trạng hiện nay thì suy trầm sẽ khó chấm dứt trong vòng chín tháng như bình quân của các đợt suy trầm trước. Tuy nhiên, bị tổng khủng hoảng như thời 1929-1933 thì có lẽ là không. Thời nay, kinh tế Mỹ có cơ chế sản xuất đa diện hơn và cơ chế ứng phó tinh vi và linh động hơn tám chục năm trước. Thời đó, số tín dung gia cư bị mất và số nhà bị sai áp chiếm 50% tổng số, cao gấp 10 thời nay. Cũng xin nói thêm rằng tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đang là 6,1% và dù có lên tới 7% vào năm tới thì vẫn chưa bằng tỷ lệ trên 25% vào thời Tổng khủng hoảng. Chỉ mong là rút tỉa bài học sai lầm trước, Mỹ đừng tăng thuế như thời Tổng thống Roosevelt khiến hậu quả khủng hoảng kéo dài hơn cho tới trước Thế chiến II, tới năm 1938-1939. Tôi thiển nghĩ rằng nước Mỹ bị ngã, nhưng sẽ đứng dậy được, chỉ mong là các nước khác cũng sẽ đứng dậy chứ không vì khủng hoảng kinh tế mà gặp khủng hoảng chính trị và sụp đổ.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.