Hôm nay,  

Hiện Tượng Obama

11/01/200800:00:00(Xem: 12434)

...thượng nghị sĩ liên bang, tức là chỉ là chuyên viên… đấu khẩu...

 Các cuộc tranh cử sơ bộ đã chính thức bắt đầu qua hai cuộc bầu cử tại hai tiểu bang Iowa và New Hampshire. Cả hai cuộc bầu đều mang lại bất ngờ cho cả hai chính đảng Dân Chủ và Cộng Hòa.

Bên Cộng Hòa thì ứng viên đứng đầu tại hai tiểu bang này trong các cuộc thăm dò dư luận từ trước đến nay là cựu thống đốc Mitt Romney đã bị thua cả hai lần, thua cựu thống đốc Mike Huckabee tại Iowa, và thượng nghị sĩ John McCain tại New Hampshire.

Giữa hai cuộc bầu là cuộc tranh cử sơ bộ tại Wyoming mà ít người để ý. Ông Romney “ddộc diễn” và thắng tại đây. Kết quả là cuộc tranh cử bên Cộng Hòa ngày càng rối rắm, với bốn ứng viên vẫn còn ngang ngửa với nhau, mỗi người hùng cứ một nơi.

Bên Dân Chủ, sự bất ngờ càng lớn hơn nữa khi thượng nghị sĩ Barack Obama hạ bà thượng nghị sĩ Hillary Clinton quá dễ dàng không ai có thể tưởng tượng được tại Iowa và chỉ thua sát nút bà Hillary tại New Hampshire (sau khi Obama thắng tại Iowa, truyền thông “thổi” ông này lên mây xanh và tiên đoán ông sẽ đè bẹp bà Hillary tại New Hampshire).

Chiến thắng của ông Obama chưa có tính cách quyết định vì đây chỉ mới là hai tiểu bang. Còn tới 48 tiểu bang nữa. Nhưng hiển nhiên những thắng lợi này đã thay đổi hoàn toàn cuộc diện cuộc tranh cử tổng thống Mỹ. Không ai còn có thể coi thường ông Obama là vô hy vọng.

Đây là một hiện tượng quan trọng trong chính trị Mỹ mà chúng ta cũng nên xét kỹ càng hơn, để thử tìm hiểu xem tại sao ông Obama đã thắng.

Thượng nghị sĩ Barack Hussein Obama bắt đầu cuộc hành trình tranh cử tổng thống Mỹ một cách vất vả, trong những điều kiện khó khăn nhất.

Ông là người lai da đen, tranh cử trong một nước mà dân da đen chỉ có khoảng 10%. Tên của ông vừa khó đọc vừa nghe chẳng có vẻ Mỹ gì hết. Đã vậy lại có cái Hussein nằm giữa, nghe sao giống như tên mấy ông Hồi giáo cuồng tín. Ông cũng là một người tương đối trẻ, mới có 46 tuổi. Nhưng quan trọng hơn thế, ông là người chẳng có kinh nghiệm chính trị gì đáng kể, hay một thành quả chính trị nào có ấn tượng cả.

Ông làm thượng nghị sĩ tại tiểu bang Illinois mới có tám năm trong thầm lặng vì chẳng làm gì xuất sắc hay nổi bật hết. Sau đó thì đắc cử thượng nghị sĩ liên bang, cho đến nay là ba năm. Năm đầu mắc bận học nghề, học thủ tục mánh mung trong hậu trường quốc hội, tìm hiểu về các vấn đề thường được biểu quyết tại quốc hội cấp liên bang, học thiết lập quan hệ với các đồng nghiệp, các đối thủ, các tổ chức thế lực, vân vân. Năm thứ hai, tập tễnh biểu quyết được vài điều luật nhè nhẹ. Năm thứ ba thì đã toàn thời bận tranh cử tổng thống rồi.

Ông Obama thật sự không phải “dden” mà cũng chẳng phải “trắng”, mà là … “xanh lè”, như trái cây xanh chưa chín, ăn vào không chát thì cũng chua.

Vì không có quá khứ nên ông Obama bắt buộc phải tranh cử dựa trên tương lai. Hoàn toàn dựa trên hứa hẹn và hy vọng vào tương lai. Trên căn bản, ông hứa hẹn ba chuyện: thay đổi, đoàn kết, và khả năng xét đoán.

THAY ĐỔI

Theo ông Obama, tất cả những gì Bush đã, đang, và sẽ làm, hay ngay cả những chuyện TT Bill Clinton (ý ông Obama là nhắm vào đối thủ là bà Hillary Clinton) đã làm đều sai và hỏng. Do đó phải thay đổi hết, từ ngọn đến gốc. Và chỉ có một người mới, không kinh nghiệm, không có dính líu gì với quá khứ mới thực hiện được những thay đổi cần thiết. Đó là lời khẳng định của ông Obama. Nếu ông đắc cử tổng thống thì tất nhiên chúng ta thành tâm cầu xin ông thực hiện được những thay đổi tốt đẹp nhất.

Tuy nhiên quá khứ đã chứng minh đây không phải là chuyện dễ.

Trước đây, TT Jimmy Carter đã hứa thay đổi y chang như vậy. Dân Mỹ sau khi đã quá chán ghét Nixon, đặt mọi hy vọng vào những thay đổi do ông Carter hứa hẹn. Kết quả ta thấy là những thay đổi của Carter đã đưa ông vào sử sách như một thảm họa lịch sử, với những thành tích như kinh tế sa sút nhất, thất nghiệp cao nhất, lãi suất cao nhất, chính phủ Mỹ hoàn toàn bất lực nhìn Nga xâm chiếm Afghanistan (Carter, một TT chống chiến tranh, “phản ứng” bằng cách tẩy chay không cho lực sĩ Mỹ tham gia Thế Vận Hội năm đó được tổ chức tại Mạc Tư Khoa, chỉ khiến Nga lãnh thêm một lô huy chương!).

Tệ hơn nữa, Mỹ bó tay nhìn Iran bắt giữ cả tòa đại sứ Mỹ làm con tin trong 15 tháng, sau khi thử đột kích vào Iran nhưng bị thất bại (quân đội Mỹ gửi một toán quân đến giải cứu, nhưng vừa đến Iran thì ba chiếc trực thăng chở lính đâm vào nhau, rớt cháy tan tành, phải gửi trực thăng khác đến cứu chạy, tất cả xẩy ra trước khi quân Iran hay biết và phản ứng!). TT chủ hòa Carter đã “thay đổi” quân đội Mỹ thành một đội quân “bất chiến tự nhiên bại”. TT Carter cũng bó tay đứng nhìn Fidel Castro phế thải qua tiểu bang Florida hàng ngàn tù phạm trộm cướp và bệnh nhân tâm thần mà không biết phải phản ứng như thế nào.

Ông Carter trước khi làm tổng thống đã từng làm thống đốc Georgia, dù sao cũng nhiều kinh nghiệm thực tiễn hơn ông Obama bây giờ.

ĐOÀN KẾT

Ông Obama hô hào hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa hãy vì quyền lợi tối thượng của đất nước mà ngưng chửi nhau và ngồi chung với nhau để giải quyết những vấn đề của đất nước. Đây không phải là lần đầu tiên các chính khách Mỹ hô hào “ddoàn kết” giữa Dân Chủ, Cộng Hòa để làm chuyện lớn cho quốc gia. Nhưng dĩ nhiên còn khó thực hiện hơn thực hiện những “thay đổi”.

Trên căn bản, những khác biệt giữa Dân Chủ và Cộng Hòa quá lớn trong đủ mọi vấn đề có tầm vóc quốc gia, từ kinh tế đến thuế khoá, y tế, giáo dục, an sinh, quốc phòng, ngoại giao, quân sự…, khó mà có thể có được một sự đoàn kết giữa hai chính đảng.

Thực tế cho thấy, TT Bush, đã nổi tiếng là một thống đốc dung hòa, có khả năng làm việc chung với các lãnh tụ Dân Chủ trong tiểu bang Texas, nhưng khi làm tổng thống thì không dung hòa được gì cả và sau vài năm thì đã bị chỉ trích là một tổng thống chia rẽ nhất. Những “chuyện nhỏ” ở tầm mức tiểu bang thì có nhiều hy vọng dung hòa, chứ vào mức quốc gia, thì dung hòa là chuyện không tưởng. Đoàn kết chỉ là một thứ bánh vẽ không bao giờ có thể có được. Ví dụ điển hình: Dân Chủ chủ trương cho phá thai trong khi Cộng Hòa chống phá thai. Làm sao dung hòa và đoàn kết"

Điều mâu thuẫn lớn trong lời kêu gọi của ông Obama: trong khi kêu gọi hai chính đảng đoàn kết và ngưng chửi nhau, thì ông lại cũng là ứng viên luôn luôn công kích TT Bush mạnh mẽ và gay gắt nhất. Trong chính trị, lời nói và việc làm ít khi đi đôi với nhau.

KHẢ NĂNG XÉT ĐOÁN

Ông Obama nhìn nhận mình không có nhiều kinh nghiệm, nhưng quả quyết ông có khả năng xét đoán (judgment) hơn người. Bằng chứng là ông đã từng sáng suốt chống chiến tranh Iraq ngay từ đầu, khi còn là nghị sĩ của tiểu bang Illinois. Trong khi các dân biểu và nghị sĩ đầy kinh nghiệm ở Washington bỏ phiếu cho phép Bush đánh Iraq, thì Obama, lúc đó tuy chưa là thượng nghị sĩ liên bang nên không tham gia biểu quyết tại quốc hội, nhưng đã công khai lên tiếng chống cuộc chiến Iraq. Chỉ vì ông đã nhìn thấy rõ đây là một cuộc chiến sai lầm, với những hậu quả cực kỳ tai hại cho nước Mỹ.

Thực ra, đây có lẽ là một bằng chứng cụ thể nhất về sự thiếu lương thiện của một chính trị gia.

Ông Obama thực sự có lên tiếng chống chiến tranh Iraq năm 2002 khi ông còn làm thượng nghị sĩ Illinois. Nhưng ông chống chiến tranh đó trong một hoàn cảnh và môi trường hoàn toàn khác, vì những lý do hoàn toàn khác. Chắc chắn không phải vì “ông đã nhìn thấy rõ đây là một cuộc chiến sai lầm, với những hậu quả cực kỳ tai hại cho Mỹ”.

Ông Obama là một nghị sĩ da đen, đắc cử phần lớn do phiếu của dân da đen và dân nghèo của tiểu bang Illinois. Trong khi đó, quân đội Mỹ hiện nay là một quân đội tình nguyện. Vì tính cách tình nguyện nên phần lớn quân nhân là thành phần thiểu số da đen, các dân thiểu số hay dân Mỹ trắng nghèo, đăng lính phần lớn vì những quyền lợi vật chất mà quân đội dành cho họ. Bởi vậy họ cũng là thành phần chịu những thiệt hại chiến tranh nặng nề nhất, nên dại biểu dân cử của họ thường chống chiến tranh mạnh mẽ nhất.

Ông Obama bắt buộc phải chống chiến tranh theo những người đã bỏ phiếu cho ông. Ủng hộ chiến tranh là hành động tự sát chính trị trong môi trường đó. Ông chống chiến tranh Iraq chỉ vì quyền lợi cá nhân trước mắt, chẳng liên quan gì đến khả năng xét đoán sự tai hại lâu dài cho nước Mỹ.

Khi lên làm thượng nghị sĩ liên bang thì tầm vóc nhìn của các thượng nghị sĩ phải mở rộng ra. Lúc đó thì ông Obama thay đổi lập trường. Năm 2004, khi được hỏi nếu ông phải biểu quyết về cuộc chiến Iraq thì ông sẽ bỏ phiếu như thế nào. Ông Obama trả lời “không biết, vì không đủ yếu tố quyết định”. Sau đó, ông đã bỏ phiếu ba lần (2004-2005-2006) chấp nhận những kinh phí chiến tranh khổng lồ do TT Bush xin.

Nhưng khi ra tranh cử tổng thống năm 2007 thì ông ta lại quên hết những lời nói và hành động trong ba năm qua, để chỉ nhắc lại câu nói chống chiến tranh của năm 2002, rồi lần đầu tiên bỏ phiếu chống ngân sách chiến tranh Iraq.

Thái độ bất nhất của Obama được giới truyền thông cố tình “quên” đi, nhưng bị cựu TT Clinton mạnh mẽ nhắc nhở lại. Dĩ nhiên là ông Clinton cần kiếm phiếu cho bà vợ, nhưng cái bất nhất của ông Obama vẫn là sự thật.

Chẳng những ông Obama chỉ hứa hẹn “hy vọng” bánh vẽ như trên đã bàn, ông còn có nhiều khuyết điểm nghiêm trọng nữa. Đặc biệt là lập trường hình như thiếu trách nhiệm trong vụ Iraq: ông chủ trương rút quân Mỹ về ngay và về hết mà không cần biết hậu quả cho Iraq và cho nền an ninh Mỹ sẽ ra sao.

Cả sự nghiệp chính trị của ông chỉ gồm có 8 năm làm nghị sĩ tiểu bang Illinois và 3 năm thượng nghị sĩ liên bang, tức là chỉ là chuyên viên… đấu khẩu. Khác với thống đốc là một trách nhiệm cần có quyết định và hành động cụ thể hàng ngày chẳng hạn, một nghị sĩ suốt đời chỉ nói miệng, đấu lý, tranh luận mà thôi. Một điều luật có làm ra cũng là công trình của cả trăm dân biểu và nghị sĩ, chứ chẳng phải là tác phẩm của một người nào.

Quan trọng hơn nữa, tuy ông nói rất nhiều và rất hay, nhưng cho đến nay vẫn không ai biết rõ chi tiết các chương trình, kế hoạch, và hy vọng vĩ đại và mù mờ của ông.

Sự thành công lạ lùng của ông Obama chỉ có thể được giải thích bằng hai hiện tượng:

- Một thứ mặc cảm kỳ thị chủng tộc của dân trí thức cấp tiến da trắng, từ các đại học đến giới truyền thông, bây giờ đang cố thổi phồng ông da đen Obama để chứng minh cho chính mình và cho thế giới là mình không kỳ thị da mầu.

- Một phản ứng chống bà Hillary của nhiều đảng viên Dân Chủ, vì ghét bà hay vì lo sợ bà sẽ bị thua phe Cộng Hòa trong cuộc bầu cử tổng thống tháng Mười Một tới.

Tuy ông Obama đã bị thua bà Hillary tại New Hampshire, cũng như còn thua xa tại các tiểu bang lớn như Florida, Texas, New York, New Jersey, California,…, chiến thắng của ông tại Iowa cũng như việc ông nhẩy lên hạng nhì, đánh bại các thượng nghị sĩ già dặn kinh nghiệm như Edwards, Biden, Dodd nói lên cái oái ăm của chính trị Mỹ.

Trách nhiệm tổng thống Hoa Kỹ là trách nhiệm quan trọng nhất thế giới, nắm quyền sinh sát cả nhân loại trong tay. Vậy mà không ít dân Mỹ, hay ít nhất dân Mỹ tại Iowa và giới trí thức và truyền thông cấp tiến, sẵn sàng trao trách nhiệm đó cho một người với một quá trình trắng tinh, chỉ có một cái tài duy nhất là nói nhiều, nói hay, và hứa hẹn giỏi.

Dường như đó thật sự là tiêu chuẩn quan trọng nhất đối với một số lớn dân Mỹ. Chẳng trách tại sao bên Cộng Hòa, ông Huckabee cũng được nhiều phiếu nhất tại Iowa. Ông này cũng chẳng có gì đáng nói trong quá trình, nhưng cũng có tài nói nhiều và nói hay vì trước đây đã từng là một nhà truyền giáo Cơ Đốc!

10-1-08

Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.