Hôm nay,  

Hiện Tượng Obama

11/01/200800:00:00(Xem: 12129)

...thượng nghị sĩ liên bang, tức là chỉ là chuyên viên… đấu khẩu...

 Các cuộc tranh cử sơ bộ đã chính thức bắt đầu qua hai cuộc bầu cử tại hai tiểu bang Iowa và New Hampshire. Cả hai cuộc bầu đều mang lại bất ngờ cho cả hai chính đảng Dân Chủ và Cộng Hòa.

Bên Cộng Hòa thì ứng viên đứng đầu tại hai tiểu bang này trong các cuộc thăm dò dư luận từ trước đến nay là cựu thống đốc Mitt Romney đã bị thua cả hai lần, thua cựu thống đốc Mike Huckabee tại Iowa, và thượng nghị sĩ John McCain tại New Hampshire.

Giữa hai cuộc bầu là cuộc tranh cử sơ bộ tại Wyoming mà ít người để ý. Ông Romney “ddộc diễn” và thắng tại đây. Kết quả là cuộc tranh cử bên Cộng Hòa ngày càng rối rắm, với bốn ứng viên vẫn còn ngang ngửa với nhau, mỗi người hùng cứ một nơi.

Bên Dân Chủ, sự bất ngờ càng lớn hơn nữa khi thượng nghị sĩ Barack Obama hạ bà thượng nghị sĩ Hillary Clinton quá dễ dàng không ai có thể tưởng tượng được tại Iowa và chỉ thua sát nút bà Hillary tại New Hampshire (sau khi Obama thắng tại Iowa, truyền thông “thổi” ông này lên mây xanh và tiên đoán ông sẽ đè bẹp bà Hillary tại New Hampshire).

Chiến thắng của ông Obama chưa có tính cách quyết định vì đây chỉ mới là hai tiểu bang. Còn tới 48 tiểu bang nữa. Nhưng hiển nhiên những thắng lợi này đã thay đổi hoàn toàn cuộc diện cuộc tranh cử tổng thống Mỹ. Không ai còn có thể coi thường ông Obama là vô hy vọng.

Đây là một hiện tượng quan trọng trong chính trị Mỹ mà chúng ta cũng nên xét kỹ càng hơn, để thử tìm hiểu xem tại sao ông Obama đã thắng.

Thượng nghị sĩ Barack Hussein Obama bắt đầu cuộc hành trình tranh cử tổng thống Mỹ một cách vất vả, trong những điều kiện khó khăn nhất.

Ông là người lai da đen, tranh cử trong một nước mà dân da đen chỉ có khoảng 10%. Tên của ông vừa khó đọc vừa nghe chẳng có vẻ Mỹ gì hết. Đã vậy lại có cái Hussein nằm giữa, nghe sao giống như tên mấy ông Hồi giáo cuồng tín. Ông cũng là một người tương đối trẻ, mới có 46 tuổi. Nhưng quan trọng hơn thế, ông là người chẳng có kinh nghiệm chính trị gì đáng kể, hay một thành quả chính trị nào có ấn tượng cả.

Ông làm thượng nghị sĩ tại tiểu bang Illinois mới có tám năm trong thầm lặng vì chẳng làm gì xuất sắc hay nổi bật hết. Sau đó thì đắc cử thượng nghị sĩ liên bang, cho đến nay là ba năm. Năm đầu mắc bận học nghề, học thủ tục mánh mung trong hậu trường quốc hội, tìm hiểu về các vấn đề thường được biểu quyết tại quốc hội cấp liên bang, học thiết lập quan hệ với các đồng nghiệp, các đối thủ, các tổ chức thế lực, vân vân. Năm thứ hai, tập tễnh biểu quyết được vài điều luật nhè nhẹ. Năm thứ ba thì đã toàn thời bận tranh cử tổng thống rồi.

Ông Obama thật sự không phải “dden” mà cũng chẳng phải “trắng”, mà là … “xanh lè”, như trái cây xanh chưa chín, ăn vào không chát thì cũng chua.

Vì không có quá khứ nên ông Obama bắt buộc phải tranh cử dựa trên tương lai. Hoàn toàn dựa trên hứa hẹn và hy vọng vào tương lai. Trên căn bản, ông hứa hẹn ba chuyện: thay đổi, đoàn kết, và khả năng xét đoán.

THAY ĐỔI

Theo ông Obama, tất cả những gì Bush đã, đang, và sẽ làm, hay ngay cả những chuyện TT Bill Clinton (ý ông Obama là nhắm vào đối thủ là bà Hillary Clinton) đã làm đều sai và hỏng. Do đó phải thay đổi hết, từ ngọn đến gốc. Và chỉ có một người mới, không kinh nghiệm, không có dính líu gì với quá khứ mới thực hiện được những thay đổi cần thiết. Đó là lời khẳng định của ông Obama. Nếu ông đắc cử tổng thống thì tất nhiên chúng ta thành tâm cầu xin ông thực hiện được những thay đổi tốt đẹp nhất.

Tuy nhiên quá khứ đã chứng minh đây không phải là chuyện dễ.

Trước đây, TT Jimmy Carter đã hứa thay đổi y chang như vậy. Dân Mỹ sau khi đã quá chán ghét Nixon, đặt mọi hy vọng vào những thay đổi do ông Carter hứa hẹn. Kết quả ta thấy là những thay đổi của Carter đã đưa ông vào sử sách như một thảm họa lịch sử, với những thành tích như kinh tế sa sút nhất, thất nghiệp cao nhất, lãi suất cao nhất, chính phủ Mỹ hoàn toàn bất lực nhìn Nga xâm chiếm Afghanistan (Carter, một TT chống chiến tranh, “phản ứng” bằng cách tẩy chay không cho lực sĩ Mỹ tham gia Thế Vận Hội năm đó được tổ chức tại Mạc Tư Khoa, chỉ khiến Nga lãnh thêm một lô huy chương!).

Tệ hơn nữa, Mỹ bó tay nhìn Iran bắt giữ cả tòa đại sứ Mỹ làm con tin trong 15 tháng, sau khi thử đột kích vào Iran nhưng bị thất bại (quân đội Mỹ gửi một toán quân đến giải cứu, nhưng vừa đến Iran thì ba chiếc trực thăng chở lính đâm vào nhau, rớt cháy tan tành, phải gửi trực thăng khác đến cứu chạy, tất cả xẩy ra trước khi quân Iran hay biết và phản ứng!). TT chủ hòa Carter đã “thay đổi” quân đội Mỹ thành một đội quân “bất chiến tự nhiên bại”. TT Carter cũng bó tay đứng nhìn Fidel Castro phế thải qua tiểu bang Florida hàng ngàn tù phạm trộm cướp và bệnh nhân tâm thần mà không biết phải phản ứng như thế nào.

Ông Carter trước khi làm tổng thống đã từng làm thống đốc Georgia, dù sao cũng nhiều kinh nghiệm thực tiễn hơn ông Obama bây giờ.

ĐOÀN KẾT

Ông Obama hô hào hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa hãy vì quyền lợi tối thượng của đất nước mà ngưng chửi nhau và ngồi chung với nhau để giải quyết những vấn đề của đất nước. Đây không phải là lần đầu tiên các chính khách Mỹ hô hào “ddoàn kết” giữa Dân Chủ, Cộng Hòa để làm chuyện lớn cho quốc gia. Nhưng dĩ nhiên còn khó thực hiện hơn thực hiện những “thay đổi”.

Trên căn bản, những khác biệt giữa Dân Chủ và Cộng Hòa quá lớn trong đủ mọi vấn đề có tầm vóc quốc gia, từ kinh tế đến thuế khoá, y tế, giáo dục, an sinh, quốc phòng, ngoại giao, quân sự…, khó mà có thể có được một sự đoàn kết giữa hai chính đảng.

Thực tế cho thấy, TT Bush, đã nổi tiếng là một thống đốc dung hòa, có khả năng làm việc chung với các lãnh tụ Dân Chủ trong tiểu bang Texas, nhưng khi làm tổng thống thì không dung hòa được gì cả và sau vài năm thì đã bị chỉ trích là một tổng thống chia rẽ nhất. Những “chuyện nhỏ” ở tầm mức tiểu bang thì có nhiều hy vọng dung hòa, chứ vào mức quốc gia, thì dung hòa là chuyện không tưởng. Đoàn kết chỉ là một thứ bánh vẽ không bao giờ có thể có được. Ví dụ điển hình: Dân Chủ chủ trương cho phá thai trong khi Cộng Hòa chống phá thai. Làm sao dung hòa và đoàn kết"

Điều mâu thuẫn lớn trong lời kêu gọi của ông Obama: trong khi kêu gọi hai chính đảng đoàn kết và ngưng chửi nhau, thì ông lại cũng là ứng viên luôn luôn công kích TT Bush mạnh mẽ và gay gắt nhất. Trong chính trị, lời nói và việc làm ít khi đi đôi với nhau.

KHẢ NĂNG XÉT ĐOÁN

Ông Obama nhìn nhận mình không có nhiều kinh nghiệm, nhưng quả quyết ông có khả năng xét đoán (judgment) hơn người. Bằng chứng là ông đã từng sáng suốt chống chiến tranh Iraq ngay từ đầu, khi còn là nghị sĩ của tiểu bang Illinois. Trong khi các dân biểu và nghị sĩ đầy kinh nghiệm ở Washington bỏ phiếu cho phép Bush đánh Iraq, thì Obama, lúc đó tuy chưa là thượng nghị sĩ liên bang nên không tham gia biểu quyết tại quốc hội, nhưng đã công khai lên tiếng chống cuộc chiến Iraq. Chỉ vì ông đã nhìn thấy rõ đây là một cuộc chiến sai lầm, với những hậu quả cực kỳ tai hại cho nước Mỹ.

Thực ra, đây có lẽ là một bằng chứng cụ thể nhất về sự thiếu lương thiện của một chính trị gia.

Ông Obama thực sự có lên tiếng chống chiến tranh Iraq năm 2002 khi ông còn làm thượng nghị sĩ Illinois. Nhưng ông chống chiến tranh đó trong một hoàn cảnh và môi trường hoàn toàn khác, vì những lý do hoàn toàn khác. Chắc chắn không phải vì “ông đã nhìn thấy rõ đây là một cuộc chiến sai lầm, với những hậu quả cực kỳ tai hại cho Mỹ”.

Ông Obama là một nghị sĩ da đen, đắc cử phần lớn do phiếu của dân da đen và dân nghèo của tiểu bang Illinois. Trong khi đó, quân đội Mỹ hiện nay là một quân đội tình nguyện. Vì tính cách tình nguyện nên phần lớn quân nhân là thành phần thiểu số da đen, các dân thiểu số hay dân Mỹ trắng nghèo, đăng lính phần lớn vì những quyền lợi vật chất mà quân đội dành cho họ. Bởi vậy họ cũng là thành phần chịu những thiệt hại chiến tranh nặng nề nhất, nên dại biểu dân cử của họ thường chống chiến tranh mạnh mẽ nhất.

Ông Obama bắt buộc phải chống chiến tranh theo những người đã bỏ phiếu cho ông. Ủng hộ chiến tranh là hành động tự sát chính trị trong môi trường đó. Ông chống chiến tranh Iraq chỉ vì quyền lợi cá nhân trước mắt, chẳng liên quan gì đến khả năng xét đoán sự tai hại lâu dài cho nước Mỹ.

Khi lên làm thượng nghị sĩ liên bang thì tầm vóc nhìn của các thượng nghị sĩ phải mở rộng ra. Lúc đó thì ông Obama thay đổi lập trường. Năm 2004, khi được hỏi nếu ông phải biểu quyết về cuộc chiến Iraq thì ông sẽ bỏ phiếu như thế nào. Ông Obama trả lời “không biết, vì không đủ yếu tố quyết định”. Sau đó, ông đã bỏ phiếu ba lần (2004-2005-2006) chấp nhận những kinh phí chiến tranh khổng lồ do TT Bush xin.

Nhưng khi ra tranh cử tổng thống năm 2007 thì ông ta lại quên hết những lời nói và hành động trong ba năm qua, để chỉ nhắc lại câu nói chống chiến tranh của năm 2002, rồi lần đầu tiên bỏ phiếu chống ngân sách chiến tranh Iraq.

Thái độ bất nhất của Obama được giới truyền thông cố tình “quên” đi, nhưng bị cựu TT Clinton mạnh mẽ nhắc nhở lại. Dĩ nhiên là ông Clinton cần kiếm phiếu cho bà vợ, nhưng cái bất nhất của ông Obama vẫn là sự thật.

Chẳng những ông Obama chỉ hứa hẹn “hy vọng” bánh vẽ như trên đã bàn, ông còn có nhiều khuyết điểm nghiêm trọng nữa. Đặc biệt là lập trường hình như thiếu trách nhiệm trong vụ Iraq: ông chủ trương rút quân Mỹ về ngay và về hết mà không cần biết hậu quả cho Iraq và cho nền an ninh Mỹ sẽ ra sao.

Cả sự nghiệp chính trị của ông chỉ gồm có 8 năm làm nghị sĩ tiểu bang Illinois và 3 năm thượng nghị sĩ liên bang, tức là chỉ là chuyên viên… đấu khẩu. Khác với thống đốc là một trách nhiệm cần có quyết định và hành động cụ thể hàng ngày chẳng hạn, một nghị sĩ suốt đời chỉ nói miệng, đấu lý, tranh luận mà thôi. Một điều luật có làm ra cũng là công trình của cả trăm dân biểu và nghị sĩ, chứ chẳng phải là tác phẩm của một người nào.

Quan trọng hơn nữa, tuy ông nói rất nhiều và rất hay, nhưng cho đến nay vẫn không ai biết rõ chi tiết các chương trình, kế hoạch, và hy vọng vĩ đại và mù mờ của ông.

Sự thành công lạ lùng của ông Obama chỉ có thể được giải thích bằng hai hiện tượng:

- Một thứ mặc cảm kỳ thị chủng tộc của dân trí thức cấp tiến da trắng, từ các đại học đến giới truyền thông, bây giờ đang cố thổi phồng ông da đen Obama để chứng minh cho chính mình và cho thế giới là mình không kỳ thị da mầu.

- Một phản ứng chống bà Hillary của nhiều đảng viên Dân Chủ, vì ghét bà hay vì lo sợ bà sẽ bị thua phe Cộng Hòa trong cuộc bầu cử tổng thống tháng Mười Một tới.

Tuy ông Obama đã bị thua bà Hillary tại New Hampshire, cũng như còn thua xa tại các tiểu bang lớn như Florida, Texas, New York, New Jersey, California,…, chiến thắng của ông tại Iowa cũng như việc ông nhẩy lên hạng nhì, đánh bại các thượng nghị sĩ già dặn kinh nghiệm như Edwards, Biden, Dodd nói lên cái oái ăm của chính trị Mỹ.

Trách nhiệm tổng thống Hoa Kỹ là trách nhiệm quan trọng nhất thế giới, nắm quyền sinh sát cả nhân loại trong tay. Vậy mà không ít dân Mỹ, hay ít nhất dân Mỹ tại Iowa và giới trí thức và truyền thông cấp tiến, sẵn sàng trao trách nhiệm đó cho một người với một quá trình trắng tinh, chỉ có một cái tài duy nhất là nói nhiều, nói hay, và hứa hẹn giỏi.

Dường như đó thật sự là tiêu chuẩn quan trọng nhất đối với một số lớn dân Mỹ. Chẳng trách tại sao bên Cộng Hòa, ông Huckabee cũng được nhiều phiếu nhất tại Iowa. Ông này cũng chẳng có gì đáng nói trong quá trình, nhưng cũng có tài nói nhiều và nói hay vì trước đây đã từng là một nhà truyền giáo Cơ Đốc!

10-1-08

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.