Hôm nay,  

Võ Đình (1933-2009)

23/06/200900:00:00(Xem: 8534)

VÕ ĐÌNH (1933-2009)

TIỂU SỬ và SỰ NGHIỆP

1933, 14 tháng 11:  Sinh tại Huyện Hương Trà, Thừa Thiên. 
Con của Ông Ngô Đình Thảng và Bà Đỗ thị Hạnh.  Mẹ cưu mang tại
Nghệ An là nơi Thầy làm việc tại Bưu điện.  Thầy gửi Mẹ về Huế để sinh
chốn đế đô. Sau đó Mẹ lại ra Nghệ An.
Tên khai sinh là Ngô Đình Sung, tên gọi ở nhà là Cu Đô. Còn có tên khác là Phó Rèn 
Gia đình mang họ Ngô Đình vì là con nuôi của nhà Ngô Đình (không liên hệ gia đình Ngô Đình Diệm) về sau đổi lại lấy họ nguyên thủy là Võ Đình
1936              
Thầy được đổi về Đà Nẵng.
Mẹ sinh em gái Ngô thị Nga
1943 
Thầy đổi sang làm việc bên Lào.  Mẹ và các con về Huế, cư ngụ tại đường
Mã Khái, thành nội Huế. Học trường tiểu học Thành nội
1945               Vua Bảo Đại thoái vị.
Việt Minh nêu cao trào kháng chiến chống Pháp
1946               Thầy lại đổi về Nghệ An.  Gia đình ra Nghệ An. Ngô Đình Sung đau thương hàn suýt chết.  Thầy nghỉ việc đem gia đình về Huế
1947               Tản cư về quê
1948               Hồi cư.  Học Trung học Khải Định Huế, nay là Quốc học.  Thời đó Khải Định bị Pháp chiếm đóng làm đồn.  Trường học tại khu Chuồng Bò.
1950               Cùng các bạn đồng môn làm báo viết tay Hồn Trẻ, viết truyện ngắn có minh họa, ký tên Thiếu Dũng (theo nhân vật Dũng trong Đôi Bạn của Nhất Linh). 
Bị bắt giam hai lần vì tham gia cao trào Học sinh Kháng chiến, tổ chức biểu tình, ném lựu đan,  truyền đơn … chống Pháp. 
Thầy Mẹ quyết định gửi du học Pháp dưới tên Ngô Đình Thiếu Dũng.
 Chuyến tàu vượt Thái Bình dương nhặt được một sách nhỏ tranh Picasso.
1950-52          Em họ Phan Nhật Nam đến ở với Cậu Mợ để có con trai trong nhà, vì anh lớn theo kháng chiến ra Bắc
1950-53          Trung học Compiègne thuộc quận Oise, 80 cây số Bắc Paris.  Tú tài I. Xuống Lyon Rhône học tiếp.
1954               Hiệp định Genève chia đôi Việt Nam ngang sông Bến Hải.  Đậu Tú tài II tại Paris
1954-55          Ghi danh hoc Luật/Sorbone. 
1956               Văn khoa Sorbone.  Bắt đầu say mê theo dõi sinh hoạt văn học, viếng thăm Viện Bảo tàng, Thư viện, xưởng vẽ…
1957               Không theo lời dặn của Thầy Mẹ muốn con học Y khoa.  Quyết tâm theo đuổi hội họa.  Vào Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật nhưng chỉ say mê những tay tổ Gauguin, Matisse, Modigliani, Picasso, Renoir, Van Gogh… nên theo học Académie de la Grande Chaumière, xưởng vẽ dạy tư nổi tiếng tại Paris.
1958               Gia đình vị hôn thê Alice Webb bạn học tại Paris mời qua Long Island, New York mùa hè.  Kết hôn cùng Alice (gia đình đặt tên Việt là Loan, theo nhân vật Dũng và Loan trong Đôi Bạn của Nhất Linh)
1959               Sinh gái đầu lòng Katherine Phượng Nam tại Paris, tạm ngụ nhà Bà Thầy tại Ville d’Avray, Seine sur Oise và vẫn theo học Mỹ thuật Chaumìère
Gia đình lấy lại họ nguyên thủy Võ Đình.  Tên Mai do Thầy Mẹ chọn để nhớ gốc Mai vàng cổ thụ trước sân nhà. Hoàng Mai. Anh lớn là Võ Đình Hoàng, về sau đổi là Võ Thế Dũng
Từ đây vẽ và viết ký Võ Đình, tên trong thẻ thông hành là Mai Võ Đình
1960              Giã từ Pháp sang Hoa Kỳ, sống tại Maryland.  Cộng tác với Galerie Félix Vercel tai New York.  Di cư sang San Francisco, California ngụ khu xóm nghèo Mission District
1961              Triển lãm cá nhân (one-man show) đầu đời tại Galerie Felix Vercel, New York
1962               Rời California sang Nevada
1963               Triển lãm cá nhân Galerie Felix Vercel, Paris và Galerie Romanet, New York. 
Thiệp Wind Play, United Nations, New York, vẽ con gái Phượng Nam chơi chong chóng.  Phát hành lại 1976
Ly dị Alice Webb
1964               Ngụ tại Kingston, upstate New York.  Gà trống nuôi con.
riển lãm cá nhân Valley House Gallery, Dallas, Texas; Galerie Romanet-Vercel, New York và Palm Beach, Florida
1965               Triển lãm cá nhân Galerie Achard de Souza và Galerie Romanet-Vercel, New York.
Kết hôn với Helen Webb, em ruột Alice (Helen có tên Việt là Huệ Liên, do Thích Nhất Hạnh đặt sau này khi đến thăm Thạch lũng). 
Đoạn tuyệt art gallery cũ.  Di cư đến Matamoras, Pennsylvania. 
1966               Triển lãm cá nhân The Teak Chest Gallery, Montclair
1967               Triển lãm cá nhân Emile Walter Galleries, New York
Sinh gái thứ nhì Hannah Linh Giang tại Port Jervis, New York.
Gặp Thích Nhất Hạnh tại New York
 Thiệp Unicorn, New York
Minh họa Birds, Frogs, and Moonlight, thơ hài cú Nhật, do Sylvia Cassedy và Kunni Suetake dịch ra tiếng Anh
1968               Tết Mậu Thân.  Thảm sát tại Huế
Dịch  và minh họa The Cry of VietNam, thơ Thích Nhất Hạnh, Unicorn Press, Santa Barbara, California
The Crimson Silk Folio, VDM Editions, Pennsylvania
All Year Long , calligraphy, Unicorn Press
Doãn Quốc Sỹ du học Mỹ, từ Tennessee lên thăm. 
1969               Thiệp The Kite, vẽ Phượng Nam thả diều, United Nation, New York
 Triển lãm cá nhân Ligoa Duncan Gallery, New York và Galeries Raymond Duncan, Paris
Dịch và minh họa The Return Path of Thoughts/Nẻo Về Của Ý của Thích Nhất Hạnh, Unicorn Journal #3, Unicorn Press
Unicorn Broadsheet #4, thư pháp, Unicorn Press
1970               Triển lãm cá nhân tại Viện Đại học Vạn Hạnh, Saigon; tại Southern Illinois University, Illinois; tại Undercroft Gallery, Pittsburgh, Pennsylvania; và tại Cornell University, Ithaca
Xuất bản The Jade Song and other Fables of Old VietNam (Chelsea House, New York)
 Xuất bản The Toad is the Emperor’s Uncle, Animal Folktales from VietNam  (Doubleday & Co., New York)
1970-71          Triển lãm cá nhân tại Margo Feiden Gallery, New York
 Dịch và minh họa The Stranded Fish/ Con Cá Mắc Cạn của Doãn Quốc Sỹ, Sáng Tạo xuất bản tại Saigon, Làng Văn Toronto tái bản 1988
1971 và 72      Triển lãm cá nhân tại International House, Denver, Colorado
Triển lãm Vo Dinh, Recent Works, Suzuki Gallery & Margo Feiden Galleries, New York
Aspects of Vietnamese Culture, cùng nhiều tác giả khác, Southern Illinois University, Center for Vietnamese Studies
1972               Di cư về Stonevale (Thạch Lũng), Burkittville, Maryland.  Có biệt danh là Thạch lũng Chân nhân, thư từ hoặc làm thơ có khi ký Thạch Mai
1973               Hiệp định Paris
 Minh họa The Magic Drum, của James Kirkup, Alfred A. Knopf, Inc.
1974               The Woodcuts of Vo Dinh, HB Press, New York
Minh họa First Snow của Helen Coutant, Alfred A. Knopf Inc., New York
Về thăm ViệtNam sau 24 năm xa cách. 
Triển lãm tại Huế và Saigon cùng Đinh Cường
Vẽ tủ thờ nhà Doãn Quốc Sỹ ở Saigon bằng ba màu sở thích đen đỏ vàng
1975               Được giải Christopher Award cuốn First Snow do Helen Coutant viết, Võ
Đình minh họa, Afred A. Knopf Inc., New York
Minh họa The Raft is not the Shore, Conversations toward a Budhist/Christian Awareness, đối thoai giữa Thích Nhất Hạnh và Daniel Berrigan, S.J., Beacon Press, Boston, Massachusetts
1975, 30 tháng 4:  Miền Nam rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt. 
1976               Qua Paris cùng Phượng Nam, nhân đám tang bạn Trương Bính
Dịch Zen Poems của Thích Nhất Hạnh, Unicorn Press, North Carolina
1977               Viết thư pháp The Way of Everyday Life, calligraphy for the Shobogenzo Genjokoan, Zen Center of Los Angeles
1978               Minh họa One Thousand Pails of Water của Ronald Roy,  Alfred A. Knopf, New York.
1977-78          Cộng tác Văn học Nghệ thuật của Võ Phiến.
 1980               Xuất bản Xứ Sấm Sét, Lá Bối, Paris.
1981               Dịch sang Việt và Anh ngữ, minh họa và trình bày thư pháp 18 bài thơ thiền xưa từ chữ Hán Hương Thiền/ Fragrance of Zen, Center of Buddhist Culture, Los Angeles.
Xuất bản Tuyết Đầu Mùa, dịch First Snow của Helen Coutant, Lá Bối Paris.
1982               Minh họa The Brocaded Slipper của  Lynette Dyer Vuong, Addison-Wesley, Massachusetts.
Minh họa The Land I Lost của Lynette Dyer Duong, Harper & Row, New York
Minh họa The Happy Funeral của Eve Bunting, Harper & Row Publishers.
1983               Minh họa A Sudden Flash of Lightning, Sư cô Gesshin Myoko Midwer và Thượng tọa Thích Mãn Giác, International Zen Institute of America, Los Angeles
Minh họa Angel Child, Dragon Child của Michelle Maria Surat, Carnival Press, Minneapolis.
Xuất bản A Flower for You, cùng dịch với Helen Coutant, Nam Tuyền Temple, Virginia


1984     .          Litterature Program Fellowship từ National Endowment for the Art, Washington, D.C.
Minh họa The Gift của  Helen Coutant, Alfred A. Knopf, New York.
1985               Mẹ qua đời tại Việt Nam.
Ly dị Helen. 
Qua Pháp mấy tháng tại Làng Hồng do Thầy Nhất Hạnh sáng lập.  Vẽ thiệp Làng Hồng.
Dịch Landscape and Exile cùng nhiều dịch giả khác, Rowan Tree Press, Boston, Massachusetts.
Mở lớp dạy vẽ cho một nhóm nghệ sĩ, trong số có Calvin Edward Ramsburg, đệ tử ruột, sau này thành công và lại mở lớp dạy vẽ, hướng dẫn đặc biệt những người khuyết tật.
1986               Thầy qua đời tại Việt Nam
Dọn nhà  qua Brunswick, Maryland.  Ở một mình.
1987               Triển lãm tại Đại học George Mason, Virginia, đánh dấu 30 năm cầm cọ
Ra mắt Xứ Sấm Sét, Văn nghệ in lại với một số bài viết sau 1980.
1988               Minh họa The Miracle of Mindfulness của Thích Nhất Hạnh, Beacon
Press, Boston, Massachusetts.
1989               Xuất bản Yoga Căn bản, Văn nghệ, California.
Dịch và minh họa The Moon Bamboo của Thích Nhất Hạnh, Parallax
Press, Berkeley, California.
Dịch The Pine Gate của Thích Nhất Hạnh, White Pine Press, New York.
Minh họa và dịch 7 trong 16 truyện/thơ War and Exile của nhiều tác giả,
Văn Bút Miền Đông, Vietnamese PEN, East Coast, USA.
Minh họa Trường ca Lời Mẹ Ru thơ Trương Anh Thụy, Nguyễn Ngọc Bích dich tiếng Anh, Cành Nam Publishers, Virginia.
1990               Xuất bản Đóa Sen và Nụ Cười, Văn Nghệ, California.
1991               Xuất bản Sao Có Tiếng Sóng, Văn Nghệ, California.
Minh họa Tết, The New Year của  Trần thị Kim Lan, Modern Curiculum
Press, Ohio.
1992               Dịch Literature of South Vietnam, 1954-1975, Vietnamese Language &
Culture  Publications, Melbourne, Australia.
Triển lãm tại Montréal, Canada, đánh dấu 35 năm nghệ thuật Võ Đình
Gửi tặng tranh Cánh Hồng  mừng nhân dịp Sắc Lụa của Trần thị LaiHồng triển lãm Áo Dài Việt Nam lần đầu tiên tại Mỹ, Wing Luke Museum,
Seattle, Washington. 
1993               Về thăm Việt Nam.
Minh họa Sky Legends of VietNam của  Lynette Dyer Duong,  Harper
Collins, New York.
1994               Kết hôn cùng Trần thị LaiHồng.
1995               Mừng Võ Phiến “thất thập cổ lai hy” Họp bạn Võ đường Tây Sơn Virginia.
Dịch và minh họa The Stone Boy của Thích Nhất Hạnh, Parallax Press,
Berkeley, California.
1996               Cùng LaiHồng về thăm Việt Nam. 
Di cư về the Sunshine State, Florida, Hoa bang. Tạm trú trại Cây Nhiệt đới của Hoàng Ngọc Hòa.
 1997               Dọn vào nhà mới 12593  82nd Street North, West Palm Beach, FL 33412
Vẽ Chim về tổ trên kính cửa vào nhà, và trồng một Hoàng Mai sân trước Nhà nhỏ đất rộng trồng cây trái hoa rau Việt Nam
Xuất bản Lầu Xép, Văn Nghệ, California
Dịch và minh họa The Pine Gate của Thích Nhất Hạnh, White Pine Press,
New York
1998               Minh họa The Miracle of Mindfulness, a Manual on Meditation của
Thích Nhất Hạnh, Beacon Press, Boston, Massachusetts
1999               Thăm Paris và Amsterdam cùng LaiHồng
2000               Xuất bản Rừng Mắm Văn Nghệ, Văn Nghệ, California
Triển lãm tại Pháp cùng Phan Nguyên, kỷ niệm 50 năm trước đặt chân tới Paris
2002               Xuất bản Huyệt Tuyết, Văn Nghệ, California.
Nguyễn Hưng Quốc từ Úc liên lạc emails về “thư từ” Võ Phiến
2003               Mừng Võ Đình “thất thập cổ lai hi!” 
Cùng LaiHồng về thăm Việt nam.
LH đi HàNội một mình, mang về một cồng cao nguyên và trống đồng Ngọc Lũ sao đúc lại.
Minh họa The Hemit and the Well của Thích Nhất Hạnh, Parallax Press,
Berkeley, California.
2004               Xuất bản Mây Chó do Tổ hợp Xuất bản Miền Đông.  Ra mắt sách tại
Đại học George Mason, Virginia.
2005               Mừng LaiHồng  “bảy chục cái Xuân!”
Xuất bản Một Cành Mai gồm 30 bài thơ Thiền và Kệ của các Thiền sư  Việt Nam, Võ Đình sưu tập, dịch ra tiếng Việt và minh họa, dịch ra tiếng Anh cùng  Công Huyền Tôn nữ Nha Trang,  Hạnh Cơ viết chữ Hán, An
Tiêm Paris/San Jose, California.
Minh họa The Coconut Monk của Thích Nhất Hạnh, Plum Blossom
Books, Parallax Press, Berkeley, California.
Mổ mắt cườm cataracts.  Đi đứng khó khăn. Bắt đầu chống gậy. 
2007, đầu tháng 7, họp mặt mấy o Gió-o tại nhà VĐ/LH, Hoa bang Minh họa Đồng dao và Trò chơi Trẻ con, biên khảo của Trần thị LaiHồng,
 đăng www.gio-o.com/
Minh họa Nhi đồng trong Ca dao, biên khảo của Trần thị LaiHồng, đăng 
www.gio-o.com/
2008              Xuất bản Trời Đất, gồm 10 truyện và 10 chuyện, Tổ hợp Xuất bản Miền
Đông Hoa Kỳ .  Ra mắt sách tại tư gia Hồ Thùy, Oakton, Virginia, có phần phụ diễn Y Phục Phụ nữ Việt Nam Xưa và Nay của Trần thị LaiHồng, kỷ niệm 15 năm phối ngẫu  Châu về Hiệp Phố.
2008              Tháng 10, đi đứng khó khăn, ngã tại phòng mạch Bác sĩ Tâm lý, phải vào
 Bệnh viện cấp cứu, sau đó nhập Trung tâm Phục hồi  ManorCare Health Services Center .
2009, tháng 2,  Bác sĩ chuyên khoa thần kinh hệ khám phá bệnh Progressive Supranuclear Palsy/ suy thoái não, một bệnh rất hiếm, tỷ lệ 1/100,000.
2009, 22 tháng 5, Ni sư Anh Hương đại diện Thích Nhất Hạnh từ Virginia về thăm và
làm lễ Cầu An.
2009, 28 tháng 5, rời ManorCare Center về nhà theo ước nguyện, có Hồng Phúc con gái họa sĩ Dương Phước Luyến giúp đón đệ tử ruột Eddie từ Maryland về thăm. 
2009, 31 tháng 5, 6:20 chiều, qua đời sau bốn ngày tại nhà, có đông đủ vợ, con, và một số thân hữu.
2009, 6 tháng 6, Tang lễ. Hỏa thiêu.  Ngoài vợ, các con và em họ Phan Nhật Nam, có
đệ tử ruột Calvin Edward Ramsburg từ Maryland về chịu tang. 
Một nửa TRO TÀN đem về Việt Nam nơi sinh trưởng, bên kia bờ Thái Bình dương.  Một nửa rải Đại Tây dương nơi từng sinh sống, thành đạt trong văn học nghệ thuật
ẤN PHẨM VÕ ĐÌNH
SÁNG TÁC
Thiệp Wind Play, United Nation, New York, 1963- 1976
Thiệp The Kite, United Nations, New York, 1969
The Crimson Silk Folio, VDM Editions, Pennsylvania, 1968
The Jade Song, Chelsea House, New York, 1970
The Toad is the Emperor’s Uncle, Doubleday, New York, 1970
Aspect  of Vietnamese Culture (with other authors), Southern Illinois University, Center for Vietnamese Studies, 1972
Vo Dinh, Recent Works, Suzuki Gallery & Margo Feiden Galleries, New York, 1972
The Woodcuts of Vo Dinh, HB Press. New York, 1974
Xứ Sấm Sét, Lá Bối Paris 1980; Văn nghệ California, 1987
Yoga Căn bản, Văn Nghệ, California, 1989
Đóa Sen và Nụ Cười, Văn Nghệ, California, 1990
Sao Có Tiếng Sóng, Văn Nghệ, California, 1991
Lầu Xép, Văn Nghệ, California, 1997
Rừng Mắm Văn Nghệ, Văn Nghệ, California, 2000
Huyệt Tuyết, Văn Nghệ, California, 2002
Mây Chó, Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, Virginia, 2004
Tuyển tập, Văn Mới, California, 2007
Trời Đất, Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2008
Tuyển tập II, dự định xuất bản 2010
DỊCH THUẬT
The Return Path of Thoughts, Unicorn Journal #3, 1969
The Stranged Fish, Sáng Tạo, Saigon, 1971; Làng Văn, Toronto, 1988
Zen Poems of Thich Nhat Hanh, Unicorn Press, North Carolina, 1976
Hương Thiền, Trung tâm Văn hóa Phật giáo, Los Angeles, 1981
Tuyết Đầu Mùa, Lá Bối, Paris, 1981
A Flower for You, cùng Helen Coutant Webb, Nam Tuyền Temple, Virginia, 1983
Landscape and Exile, cùng nhiều dịch giả khác, Rowan Tree Press, Boston, Massachusetts, 1985
The Moon Bamboo, Thích Nhất Hạnh, Parallax Press, Berkeley, California, 1989
The Pine Gate, Thích Nhất Hạnh, White Pine  Press, New York, 1989
War and Exile, cùng nhiều dịch giả khác, Vietnamese PEN, East Coast, USA, 1989
Literature of South Vietnam, 1954-1975, Vietnamese Language and Culture Publications, Melbourne, Australia, 1992
The Stone Boy, Thích Nhất Hạnh, Parallax Press, Berkeley, California, 1995
A Branch of Plum Blossom, An Tiêm Paris, California, 2005
 MINH HỌA
Birds, Frogs, and Moonlight, Doubleday, New York, 1967
The Cry of Vietnam, Unicorn Press, Santa Barbara, California, 1968
All Year Long, calligraphy, Unicorn Press, 1968
The Magic Drum, Alfred A. Knopf, New York, 1973
First Snow, Alfred A. Knopf, New York, 1974
The Raft is not the Shore, Beacon Press, Boston, Massachusetts, 1975
The Way of Everyday Life, calligraphy for the Shobogenzo Genjokoan, Zen Center of Los Angeles, California, 1978
One Thousand Pails of Water, Alfred A, Knopf, New Yprk, 1978
Fragrance of Zen, Center for Buddhist Culture, Los Angeles, California, 1981
The Brocaded Slipper, Addison-Wesley, Massachusetts, 1982
The Land I Lost, Harper & Row, New York, 1982
The Happy Funeral, Harper & Row, New York, 1982
A Flash of Lightning, International Zen Institute of America, Los Angeles, California
1983
Angel Child, Dragon Child, Carnival Press, Minneapolis, Minnesota, 1983
The Gift, Alfred A. Knopf, New York, 1984
The Miracle of Mindfulness, Beacon Press, Boston, Massachusetts, 1988
Trường ca Lời Mẹ Ru, Tủ sách Cành Nam, Virginia, 1989
Tết, The New Year, The Children’s Museum, Boston, Massachusetts, 1991
Sky Legends of Vietnam, Harper Collins, New York, 1993
The Hermit and the Well, Parallax Press, Berkeley, California, 2003
Một Cành Mai, An Tiêm Paris, California, 2005
The Coconut Monk, Parallax Press, Berkeley, California, 2005
Nhi đồng trong Ca dao, biên khảo của Trần thị LaiHồng
Đồng dao và Trò chơi Trẻ con, biên khảo của Trần thị LaiHồng
Trần thị LaiHồng soạn ghi.
Hoa bang, 14 tháng 6, 2009, tuần chay thứ nhì.

Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.