Hôm nay,  

Người Về Từ Iraq

06/04/200800:00:00(Xem: 9224)

Đại tướng David Petraeus sẽ đi vào một chiến trường khác, tại Hoa Kỳ...
Thứ Ba này, tư lệnh chiến trường Iraq là Đại tướng David H. Petraeus, và vị tương nhiệm dân sự là Đại sứ Ryan Crocker tại Baghdad, sẽ lại ra điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ về tình hình Iraq sau lần điều trần trước, vào hai ngày 10-11 tháng Chín năm ngoái.

Trong lần điều trần trước, viên tướng có chiến công và uy tín của Quân lực Hoa Kỳ bị một số dân cử phản chiến trong Quốc hội nhục mạ, rằng bản tường trình của ông là do Tòa Bạch Cung soạn trước - hàm ý rằng ông là công cụ chính trị cho Hành pháp - hoặc tràn đầy chi tiết chỉ đáng tin cho những người cả tin - lập luận của Nghị sĩ Hillary Clinton. Và tổ chức phản chiến do nhiều tỷ phú Mỹ bỏ tiền tài trợ là Moveon.org còn đăng cả trang quảng cáo trên tờ New York Time ngày mùng 10 tháng Chín với nội dung chơi chữ nhằm phỉ báng ông là "bội phản Hoa Kỳ".

Đấy là cái giá phải trả cho nền dân chủ.
Trong một xứ độc tài, các tướng cầm quân khỏi cần giải trình với quốc dân về chiến trường, như Chechnya tại Nga; hay diệt trừ phiến loạn ở Tân Cương tại Trung Quốc; hoặc về chiến trường Cambốt như tại Việt Nam, gần 30 năm về trước. Hiểu như vậy, ta không nên sốt ruột cho một sĩ quan hữu trách như Tướng Petraeus.
Ông là người dày kinh nghiệm tác chiến từ những ngày đầu tại Iraq khi là Tư lệnh Sư đoàn Không kỵ 101 và góp phần bình định Mosul. Sau khi mãn khoá trường Võ bị West Point năm 1974 và phục vụ quân đội, ông còn tốt nghiệp Cao học về Chính sách Công quyền rồi Tiến sĩ về Bang giao Quốc tế từ hai chục năm trước tại một Đại học có uy tín là Princeton. David Petreaus là người am hiểu cả hậu phương lẫn chiến trường.

Ngoài chiến trường, tại Iraq, ông phải đối diện với một thực tế rối bù.
Đó là ba sắc tộc và hệ phái tôn giáo Kurd, Sunni và Shia đang tranh thắng trong tương lai Iraq. Bên dưới là tàn tư al-Qaeda và các nhóm khủng bố ngoại nhập. Đằng sau là Iran với khả năng sách động và yểm trợ mọi lực lượng bạo động - không chỉ phe Shia trong Chính quyền Baghdad của Thủ tướng Nuri al-Malaki mà còn có Thượng hội đồng Islamic Supreme Council of Iraq - ISCI - của lãnh tụ Abdel Azia al-Hakim - hay nhóm "dân quân" võ trang Mahdi Army của giáo sĩ Muqtada al-Sadr, người đang... ngồi tu tại Iran. 

Tại hậu phương, ông sẽ rơi vào sóng gió bầu cử của nước Mỹ và bị tấn công từ đa số đảng Dân chủ và cả hai ứng viên Dân chủ Hillary Clinon và Barack Obama trong khi vẫn phải chứng minh rằng ông là một sĩ quan đang bảo vệ Hoa Kỳ chứ chẳng tranh cử gì cho Nghị sĩ John McCain hoặc bênh vực Chính quyền Bush.

Trách nhiệm nào là nặng hơn, với kẻ thù trước mặt hay các đại diện quốc dân ở nhà"
Và ông lâm trận khi ý thức được rất rõ, rằng trọng tài sẽ sẵn sàng thổi còi tuyên bố là trận tuyến Iraq đã ngã ngũ, Hoa Kỳ đã thua, và chiến lược dồn quân đánh tới của Tổng thống Bush do ông thi hành từ năm ngoái không đạt kết quả dứt khoát. Trọng tài ấy chính là truyền thông Hoa Kỳ. Đây là một tái diễn của trận Mậu Thân 1968 tại Việt Nam, trên chính trường Mỹ.

Người Mỹ nói chung có sự hiểu biết khá mỏng về lịch sử và văn hoá thế giới - không phải lỗi của họ. Nếu có là do hệ thống giáo dục nông cạn của Hoa Kỳ về thiên hạ sự bên ngoài nước Mỹ. Người Mỹ thường hay đổi ý theo tinh thần thực dụng truyền thống của họ và tới nay vẫn thấy sự thực tiễn ấy là ưu điểm. Từ thời lập quốc của Mỹ, thế giới đã trải qua bao cuộc chiến tranh mà nước Mỹ vẫn an toàn trên một hải đảo bát ngát, vì được bảo vệ bởi hai đại dương rộng lớn và hai lân bang chưa khi nào là một đe dọa cho Hoa Kỳ là Canada và Mexico.

Lần đầu tiên mà lục địa Mỹ bị tấn công trong lịch sử là vụ khủng bố 9-11 năm 2001, nên cách ứng xử của họ cũng có những yếu tố độc đáo bất ngờ, "có ý nghĩa lịch sử".
Vấn đề chính của xã hội Mỹ là người dân vẫn nhìn vào cuộc chiến mới với nhãn quan cũ, theo truyền thống cũ. Đó là truyền thống thiếu kiên nhẫn khi thấy chiến tranh kéo dài.

Với tâm lý của quảng đại quần chúng, quá bốn năm là một thời hạn quá dài. Với tâm lý của giới chính trị, khi dân Mỹ hết kiên nhẫn thì họ phải chuyển hướng, tráo trở và đảo ngược lập trường cũng được, miễn là thắng cử.

Tâm lý này được thấy từ cuộc Nội chiến và phe Bắc quân đã thắng bất ngờ trước khi các chính khách kéo cờ hàng - và Abraham Lincoln trở thành Tổng thống bại trận - nhờ các chiến dịch thành công của các Tướng Sheridan và Sherman vào mùa Thu năm 1864. Ngay từ trong giả phả Hoa Kỳ, ấn tượng tại hậu phương có góp phần thắng bại nơi tiền tuyến.

Thế chiến II cũng không khác, Hoa Kỳ bị chật vật trong suốt ba năm đầu cho tới khi đảo ngược được tình hình từ năm 1943 và nhất là từ năm 1944. Nếu cuộc đổ bộ ngày sáu tháng Sáu 1944 tại Normandie để giải phóng Tây Âu mà được trực tiếp truyền hình về hậu phương thì các tướng cầm quân đã bị lột lon tại chỗ, và phân nửa dân Pháp sẽ nói tiếng Đức.

Mươi năm sau, Tổng thống Harry Truman của đảng Dân chủ không dám ra tái tranh cử khi tỷ lệ ủng hộ sụt tới 22% (thấp hơn ông Bush hiện nay chừng 13%!) vì chiến tranh Cao Ly cù cưa không dứt, thủ đô Hán Thành của Nam Hàn đổi chủ bốn lần! Năm 1950, dân Mỹ ủng hộ quyết định tham chiến của ông khi Trung Quốc tung ra chiến dịch biển người để tràn xuống vĩ tuyến 38 của Nam Hàn, năm 1953. Họ coi ông là Tổng thống bất tài!

Khi lên nhậm chức Tổng thống, Dwight Eisenhower không thay đổi mục tiêu hay chiến lược trên chiến trường Cao Ly, nhưng vẫn đạt được kết quả là hiệp định ngưng bắn và bảo vệ được Nam Hàn cho tới ngày nay. Nam Hàn trở thành cường quốc kinh tế thứ 11 của thế giới, và một trong những xứ dân chủ nhất, dù vẫn bị Bắc Hàn Cộng sản đe doạ.

Ngày nay, lịch sử Hoa Kỳ ca ngợi Harry Truman là một Tổng thống có tài và có công bày ra chiến lược be bờ cộng sản, để Ronald Reagan dứt điểm gần nửa thế kỷ sau. Nhưng lá phiếu của các sử gia thường không nhiều, và quá trễ. Cử tri Hoa Kỳ thuộc loại dốt sử có hạng so sánh với người dân các quốc gia đã từng trả giá rất đắt cho chiến tranh và ngoiạ xâm!

Khi chuẩn bị can thiệp mạnh vào Việt Nam, từ năm 1964, Tổng thống Lyndon Johnson được sự ủng hộ của 98 trong 100 Nghị sĩ và tất cả 435 Dân biểu tại Hạ viện. Chưa đầy bốn năm sau, dư luận xoay chiều theo cách tường thuật hời hợt và sai lạc của truyền thông sau trận Mậu Thân 1968. Johnson tuyệt vọng trước sự đảo ngược lập trường của đảng Dân chủ của mình, và như Truman, đành rút lui không ra tái tranh cử. Bốn chục năm sau, lịch sử thấy rằng hơn hẳn John Kennedy trong ngàn ngày tại chức, Johnson là người đóng góp nhiều nhất cho xã hội và dân quyền Hoa Kỳ, nhưng bị ông vẫn bị đại họa vì  vụ Việt Nam mà ông thừa hưởng từ Kennedy.

Nếu Hoa Kỳ không đổi ý và biết rút tỉa bài học đích thực của trận Mậu Thân, có khi miền Nam không bị chiến dịch Đông Xuân 1972 của Cộng sản miền Bắc, và kết cuộc sẽ không thể là một tháng Tư đen 1975 cho dân Việt Nam và danh dự nước Mỹ.
Khốn nỗi, dân Mỹ không thể kiên nhẫn quá bốn năm!

Chúng ta trở về thực tại Iraq và vấn nạn của Tướng Petraeus.
Tháng 10 năm 2002, đại đa số tới ba phần tư của dân Mỹ đã ủng hộ chiến dịch Iraq. Ngay cả trong giả thuyết Mỹ phải ra quân một mình mà không đội mũ xanh của Liên hiệp quốc, hơn 70% dân Mỹ vẫn đồng ý. Tỷ lệ phản chiến không xoay chuyển trong mọi trường hợp chỉ ở khoảng 20-21% mà thôi. Sau khi Mỹ đã vào Iraq mà không tìm ra võ khí tàn sát hàng loạt WMD của chế độ Saddam Hussein - một sai lầm tình báo của Hoa Kỳ và đại đa số các nước trên thế giới, kể cả Liên hiệp quốc, Pháp, Đức và... nguyên Tổng thống Bill Clinton cùng đảng Dân chủ - đa số dân Mỹ vẫn hậu thuẫn cuộc chiến tại Iraq.

Tình hình chỉ xoay chuyển từ cuối năm 2006. Những tai tiếng không thể chấp nhận được về vụ ngược đãi tù binh tại Abu Graibh và cuộc vận động dữ dội của phe phản chiến đã khiến các chính trị gia chột dạ. Như mọi khi, các chính khách đảng Dân chủ là những người đánh hơi bén nhạy nhất, và như mọi khi, một số chính khách Cộng hoà đổ theo và quay về đả kích Chính quyền Bush. Đấy là quy luật bình thường của chính trường Hoa Kỳ, khiến thế giới không tin vào nước Mỹ và kết luận - không sai - rằng thà làm đối thủ của Mỹ còn thọ hơn là đồng minh của Mỹ.

Điều bất ngờ cho mọi người, kể cả trong ban tham mưu đối ngoại và bộ máy chiến tranh Hoa Kỳ, là George W. Bush lại có phản ứng khác.
Lạc lõng và cô đơn, ông nhìn chuyện Iraq trong toàn cảnh của cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo toàn cầu. Và kết luận rằng nếu tháo chạy khỏi Iraq thì lợi bất cập hại. Trên cùng một cục diện, ông rút tỉa bài học khác. Sau khi trình bày sự thể với lãnh đạo Quốc hội thuộc cả hai đảng rồi thấy rằng họ không chấp nhận tình trạng bất phân thắng bại kéo dài như vậy và đề nghị rút quân, ông đề nghị giải pháp trái ngược: dồn quân đánh tới cho đến khi tình hình chính trị khả quan hơn thì mới kéo các đơn vị tác chiến về.

Mục tiêu vẫn là tạo điều kiện cho Iraq trở thành một quốc gia ổn định và đồng minh của Mỹ tại Trung Đông trong trận chiến trường kỳ chống quân khủng bố.
Điều may cho ông, và cả Nghị sĩ McCain, là Đại tướng Petraeus cũng thấy như vậy và nhận lãnh trách nhiệm hoàn thành mục tiêu đó. Sáu tháng sau khi các lữ đoàn tác chiến của Mỹ được tăng phái vào Iraq, Petraeus đã tường trình trước Quốc hội lần đầu, với một lượng định còn gây hồ nghi cho thiên hạ: chiến lược dồn quân đánh tới đã có kết quả khả quan và số tổn thất của Mỹ, lẫn dân chúng Iraq đã giảm dần. Đó là lần điều trần tháng Chín.

Lần này, ông sẽ khó ăn khó nói hơn. Vì Hoa Kỳ có thể đang thắng thế và Iraq có hy vọng tồn tại vững mạnh hơn trước. Khó nói vì ông bị lôi vào một trận tuyến khác, trận tuyến chính trị trong một mùa bầu cử tại hậu phương. Từng lời nói của mình sẽ được suy diễn - hoặc xuyên tạc - theo tinh thần tranh cử!

Mọi cuộc chiến đều có nhiều giai đoạn thắng bại nhất định và trong một xã hội dân chủ, không thể cấm người dân điểm quân tính số và đo đếm lợi hại theo nhận thức có khi là hời hợt của họ. Nếu hiểu như vậy, trước khi dụng binh, lãnh đạo Hoa Kỳ phải cân nhắc kỹ để kết luận trước, là nên đánh nhanh rút lẹ trước khi quần chúng hết kiên nhẫn. Nếu không, phải giải thích tường tận và rõ ràng hơn cho dân chúng biết về từng lẽ lợi hại.
Tổng thống Bush bị chống đối không vì ông đã cương cường nhấn tới mà vì ban tham mưu của ông không biết giải thích toàn bộ vấn đề và ý nghĩa chính trị của từng thắng bại quân sự ngoài chiến trường.

May cho nước Mỹ là ông không tháo chạy. May cho ông Bush là Quân lực Mỹ đã cố gắng chiến đấu trong hoàn cảnh hoang mang tại hậu phương và có một vị tướng như David H. Petraeus. Sau này, may ra lịch sử sẽ khoan dung hơn với ông, như đã xét lại công trạng và thành tích của Harry Truman.

Trong tinh thần ấy, ta sẽ theo dõi cuộc điều trần tuần này của Tướng Petreaus. Và không quên cách tường thuật của truyền thông Hoa Kỳ.
Đấy cũng là một bài học của trận Mậu Thân 68.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.