Hôm nay,  

Kuku, Nhật Ký Dọc Đường...

07/07/200900:00:00(Xem: 5334)

Kuku, nhật ký dọc đường...

Lưu Dân (Sydney - Australia)
Bài 4
Ngày 5 (14.04: Berhala - Air Biru): Quê người chạnh nhớ...
Tuy là ngày "sinh hoạt tự do" trong chương trình nhưng chúng tôi cũng đã tận dụng thời gian để... đi cho biết đó biết đây. Theo lời chỉ dẫn của người dân địa phương, cả đoàn rủ nhau đi bộ đến đảo Berhala kế cận, nơi được biết có vài chục ngôi mộ thuyền nhân VN an táng từ gần 30 năm trước. Nghe "đi bộ đến đảo" có vẻ hơi... là lạ, nhưng thật sự là vậy. Một chiếc cầu đá dài và vững chắc đã được xây từ nhiều năm trước (sau thời người tỵ nạn VN đến đây) nối liền Letung với Berhala cho người đi bộ. Xe hơi nhỏ cũng có thể chạy trên chiếc cầu.
Trên đảo Berhala chỉ có vài ngôi nhà và một đài hải đăng hướng dẫn tàu bè quốc tế qua lại trên vùng biển này. Nơi đây cũng rất gần với hải phận quốc tế và là một "khu vực nhạy cảm" trong tình hình tranh chấp lãnh hải hiện nay giữa những quốc gia lân cận, đặc biệt là từ khi Trung Quốc công bố "bản đồ lưỡi bò" dành phần chủ quyền của họ trên Biển Đông. Chính phủ Nam Dương không ồn ào tranh cãi về tham vọng bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán từ phương Bắc nhưng rõ ràng họ đã khẳng định tư cách chủ nhân của mình bằng hành động. Chiếc cầu Berhala và lá cờ đỏ trắng trên đỉnh đảo là một tuyên ngôn không lời, nhưng rõ ràng và quyết liệt biểu hiện ý chí bảo vệ giang sơn của họ.
Chúng tôi đi bộ trên chiếc cầu với một tâm trạng nao nao khi nghĩ về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phần lãnh thổ của tổ quốc nằm rất xa nơi đây đang bị nuốt chửng thô bạo bởi những kẻ từng một thời tự coi như "vừa là đồng chí, vừa là anh em" với chế độ đương quyền ở quê nhà. Tự dưng, chẳng ai bảo ai, những khúc dân ca, những bài hát đánh thức lòng yêu nước và tình tự dân tộc được cất lên, say sưa và xúc cảm, cứ như chúng tôi đang đi trên con đường cái quan Việt Nam...
"Tôi đi từ Ải Nam Quan qua vài ngàn năm lẻ...", "Anh em ta cùng mẹ cha, nhớ chuyện cũ trong tích xưa khi thế gian còn mù mờ...", "Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn, đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang...", "Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi! Ai chiến thắng không hề chiến bại..."
Dường như trời mây non nước Nam Dương cũng cảm thông với tấc lòng hoài quốc của đoàn lữ khách. Ánh nắng buổi sáng nhiệt đới có phần dịu xuống trên lưng áo đã bắt đầu rướm mồ hôi của chúng tôi.
Đến đảo, chúng tôi được viên cảnh sát trưởng Letung dẫn lên một ngọn đồi sát biển để tìm mộ thuyền nhân VN. Dốc đá cao và khá hiểm trở nên anh Trưởng đoàn chỉ đồng ý cho vài người gân cốt tương đối còn vững vàng đi theo. Khi đo bằng mắt, chúng tôi ước lượng chỉ tốn khoảng 10 phút là đến nơi nhưng nhóm tình nguyện đã mất hơn nửa giờ mới lên được đỉnh đồi. Rừng dầy, ẩm và nhiều muỗi. Dù được trang bị bởi những loại nhang mùi, thuốc bôi, thuốc xịt và áo quần khá kỹ nhưng chúng tôi vẫn bị tấn công tới tấp bởi đàn muỗi đói kinh niên. Lạ một điều là chúng chỉ... nhào vào bọn tôi thôi, còn những người địa phương lại an toàn vô sự. Chắc vì... mùi thịt mới chăng"
Sau khoảng nửa giờ tìm kiếm không kết quả, chúng tôi tập trung đến một khoảng trống giữa rừng, cùng đốt nhang khấn vái cho vong hồn những đồng bào còn vất vưởng được siêu thoát trước khi xuống bãi nhập lại với nhóm đang đợi.
Tại đây, chúng tôi được một số người địa phương đến tặng các món quà quý báu: những tấm hình chụp từ hai ba chục năm trước của họ với thuyền nhân Việt Nam. Dù đã phai màu nhưng những tấm hình này là chứng tích không thể phủ nhận được của cuộc bỏ phiếu bằng chân đắt giá nhất trong lịch sử Việt Nam cho tự do và nhân quyền. Có người cho biết những tấm hình kỷ niệm đó là của ông, của cha họ (bây giờ đã qua đời) khi còn làm việc cho Cao ủy Tỵ nạn LHQ hoặc cho các tổ chức nhân đạo quốc tế ở Kuku và Letung. Họ đã giữ những tấm hình đó trên bàn thờ gia đình từ lâu rồi, nhưng nay trân trọng trao lại cho chúng tôi như những kỷ vật để nhớ đến người chết và để nhắc cho người sống. Anh Trưởng đoàn tiếp nhận những tấm hình đó mà bàn tay run run vì cảm động, không nói nên lời...  
Chiếc xe bus chuyên chở học sinh - có lẽ được xuất xưởng từ ngày... Nam Dương khôi phục nền độc lập - đã chờ sẵn bên kia cầu để đưa chúng tôi đến Air Biru, bãi sau của Letung và là nơi được xếp hạng thứ 6 hoặc thứ 7 trong số các bãi biển thiên nhiên đẹp nhất Á châu. (Về sau, tôi mới biết đây là chiếc xe bus duy nhất trên đảo do cựu Tổng thống Suharto tặng cho trường tiểu học Letung khi ông đến kinh lý hòn đảo này từ năm... một ngàn chín trăm hồi đó! Nó được tạm thời "trưng dụng" cho chúng tôi, báo hại các em học sinh hôm đó phải cuốc bộ đến trường. Thật áy náy quá!)
Quả thật, danh bất hư truyền... Bãi Air Biru dài cả chục cây số, cong như cánh cung, được che chở bởi dãy núi sừng sững, bờ cát trắng mịn và thoai thoải tận phía xa. Không cần một lời mời gọi, cả đoàn - nhất là băng từ Âu châu thèm biển từ đời nào - cởi phăng hết... lớp ngoài, phóng mình xuống làn nước mát rượi.
Ở đây, ngoài vài túp lều đơn sơ của ngư dân địa phương, chỉ có dừa và... dê. Mà ngộ thiệt, mấy "ông thầy" cứ lảng vảng quanh quý bà (đúng là cái nết đánh chết không chừa!) để kiếm vài chiếc vỏ dưa hấu hoặc rau cải mang theo cho buổi BBQ trong khi các nàng dê cái lại quấn quít hơn với các ông (xin thề, nói thật 100%) chẳng biết... để làm gì.
Rồi bên lò cá nướng, quanh tấm bạt trải ra trên bãi cỏ, chúng tôi lại văn nghệ dã chiến với chiếc đàn thùng lạc cả giây và những ly "nước mắt quê hương" (dừa tươi pha rượu) chuyền tay đến tận giọt cuối cùng. Ngày xả hơi trôi qua êm đềm đến khi các bà đỏ ửng lên như tôm luộc vì rám nắng và các ông cũng ngật ngừ với hai chai cognac cắc củm mang qua từ Singapore hồi đầu chuyến đi. Anh chàng trùm sò lại ghi sổ: "Lời to rồi, bà con ơi! Ai còn bạc cắc xin cứ tự nhiên đóng góp cho Trần Lão Gia để vớt thêm bonus nhá!" Vẫn biết là câu nói đùa nhưng ai cũng thừa nhận chuyến đi thật... đáng công đáng của.
Đêm xuống Letung nhẹ nhàng và thơ mộng dưới ánh trăng loang loáng cả mặt biển phẳng lì. Vài nhóm nhỏ rủ nhau dạo làng, tặng quà cho trẻ con hoặc ra cầu tàu tâm sự vụn cho trôi bữa cơm tối. Lục đục đến khuya âm thanh trong căn nhà trọ mới chuyển tông từ những chuỗi cười rôm rả sang bản hợp xướng kéo gỗ nhịp nhàng vào đêm cuối cùng ở "Venice của châu Á"...
Ngày 6 (15.04 Keramut - Air Raya): Cầu nguyện giữa trưa
Những bàn tay vẫy chào quyến luyến của người dân Letung tiễn đưa chúng tôi đã phủ màn sương mỏng trên mắt mọi người. Tuy chỉ vài ngày ngắn ngủi nhưng sự mộc mạc và hiếu khách của họ đã để lại kỷ niệm sâu đậm trong lòng chúng tôi. Dù biết cơ hội trở lại nơi này là rất mong manh nhưng tôi tin nếu có điều kiện, bất cứ ai trong đoàn cũng đều muốn đến thăm Letung lần nữa...
Chiếc ca-nô tốc hành đưa chúng tôi đến Keramut, một hòn đảo cách Letung khoảng nửa giờ, để viếng mộ thuyền nhân VN. Keramut nhỏ hơn Letung, cũng mang dáng dấp hiền hòa và yên bình của một làng chài miền xa. Chỉ cách cầu tàu giữa làng chừng vài trăm mét, chúng tôi được dẫn đến hai ngôi mộ chôn cạnh nhau trong vườn của một gia đình ở cạnh bờ biển. Tất cả cùng đến làm cỏ và dọn dẹp chung quanh phần mộ trước khi cầu nguyện với nghi thức tôn giáo riêng của từng người trong đoàn. Chúng tôi cũng gửi một ít quà và nhờ người địa phương chăm sóc cho những ngôi mộ trên sườn núi mà hôm ấy không có đủ thời gian và điều kiện đến thăm.
Theo lời kể của ông Adnan Nala từ hôm trước, chúng tôi tiếp tục đến Air Raya, nơi hàng ngàn thuyền nhân VN đã tấp vào và tạm cư ở đây trước khi trại Kuku được thành lập. Cũng như Kuku, Air Raya bây giờ là một đảo hoang, bốn bề mênh mông hiu quạnh, chỉ còn lại vài cây dừa lão cao ngất. Ca-nô không ủi bãi được nhưng mọi người đều muốn lội nước vào bờ, cứ như sống lại thuở ngày xưa lên đảo...
Chúng tôi đến vào quãng giữa trưa, cát nóng như than hầm dưới chân. May quá, một chiếc tàu tiếp liệu nào đó đã đến đây mấy ngày trước và để lại ít mẩu ván và cột gỗ. Chúng tôi bèn... "xin phép ông địa" để sử dụng các vật dụng này làm bàn thờ cầu siêu cho đồng bào gửi thân trên đảo. Lễ phẩm cúng tế được bày ra đơn sơ trên tấm gỗ ngay trên bãi biển. Những nén nhang và các xấp vàng mả được đốt lên dưới cái nóng rát mặt trên làn da bắt đầu bỏng rộp. Những bài kinh cầu siêu và thánh ca vang lên, ngậm ngùi và thành kính.
Bác Hồ Tắc, đến Air Raya cách đây trên 30 năm, không nén được xúc cảm khi nhìn lại cảnh bể dâu thế sự, nước mắt chảy ròng trên khuôn mặt hằn dấu gian truân của một người từng hai lần trong đời phải rời bỏ quê hương xứ sở để mong tìm một cuộc sống trong nhân phẩm và tình người. Ông xin được thay mặt cho đoàn để khấn vái với những người bạn đồng hành nửa đường nằm lại:
"Quý ông bà, anh chị em ơi... Tôi và gia đình cũng đã đến đây hơn ba mươi năm trước và đã may mắn đến được đất nước định cư. Nay trở lại thăm nơi cũ, lòng dạ não nề trước cảnh điêu tàn hoang phế qua thời gian, bùi ngùi tưởng tiếc những người gửi thây nơi đảo vắng rừng xa trên đường tìm tự do... Tôi xin dâng nén nhang thành kính này để cầu nguyện hương linh quý ông bà, anh chị em nhẹ nhàng siêu thoát, trút bỏ những oan khiên cừu hận để thảnh thơi yên nghỉ nơi chín suối. Xin những hương hồn vất vưởng đầu cây ngọn cỏ ở Air Raya này chứng tri cho tấc lòng của chúng tôi..."


Chúng tôi đứng quanh chiếc bàn thờ dựng tạm, lịm người dưới ánh nắng trưa như đổ lửa mà rưng rưng theo tiếng nấc của người anh vui tính nhất trong đoàn. Mấy ngày qua, tất cả chúng tôi đều nhìn bác Hồ Tắc như một "Lão Ngoan Đồng" vô tư nhất trần gian. Ông đùa nghịch như một đứa trẻ và hòa đồng với mọi người trong từng bữa ăn, giấc ngủ. Vậy mà, ký ức đau thương về quãng đời đã qua hơn phần tư thế kỷ vẫn còn làm ông day dứt, u buồn...
Chúng tôi đào một hố cát trên bãi để lấp lại tro than như một phần mộ trong tâm tưởng và cũng để tránh cháy rừng vì những cơn gió khô thổi lan sang các bụi cây chung quanh trước khi rời đảo.
Lội ra lại ca-nô, Edi, người dẫn đoàn luôn ở bên cạnh chúng tôi trong suốt chuyến đi, chợt thốt lên một câu trào phúng để xóa bớt không khí lắng đọng sau buổi lễ tưởng niệm: "Các bạn đã đói rồi chắc" Chúng ta ăn trưa ở Thiên đàng nhé" Có ai muốn theo tôi không""
Dĩ nhiên rồi, nhưng Thiên đàng ở đâu"
Edi quay lại xổ một tràng tiếng Nam Dương với tài công và chiếc ca-nô quay mũi đến một hòn đảo nhỏ giữa chập chùng hàng chục hải đảo trong vùng Anambas. Từ xa, mọi người đã ồ lên một tiếng kinh ngạc. Chúng tôi chưa từng nhìn thấy một hải đảo đẹp như thế bao giờ! Hòn đảo như chưa hề có vết chân người, những bụi cây thấp với màu lá xanh mướt như ngọc, hàng dừa lã thân trên bãi cát trắng tinh tít tắp. Và làn nước trong vắt như pha lê, nhìn rõ cả những đàn cá đủ màu nhởn nhơ đẹp như... màn hình computer. Thảo nào, người địa phương đặt tên hòn đảo này là Impol (Waters of God): Nước của Trời!
Thật ra, Edi đã sắp xếp từ trước cho chúng tôi nghỉ trưa ở đây. Anh đã không đắn đo khi phải "chi thêm chút đỉnh ngoài ngân sách" để khoe với du khách về cảnh đẹp của đất nước mình. Ai cũng ngây ngất chiêm ngưỡng tác phẩm toàn hảo này của thiên nhiên. Tôi may mắn đã từng có dịp đến một số hòn đảo đẹp của quê hương mình, nhưng công bằng mà nói, các đảo Phú Quý, Thổ Châu, Hòn Rơm, Hòn Cau... so với Impol còn thua nửa bước.
Chúng tôi "hạ trại" ở đó. Mấy thùng mì xào ớt (độn sò điệp và tôm sú) được mang ra "xử lý" tại chỗ với những ngụm nước dừa tươi ngọt lịm. Ai cũng tưởng cái món truyền thống của Xứ Vạn Đảo đã làm mọi người ngán tận cổ mấy ngày hôm nay, nhưng anh bạn người Huế sành ăn lại so sánh "mì thiên đàng" Nam Dương là kỳ phùng địch thủ với "cơm âm phủ" của đất thần kinh ở Việt Nam. Nhiều người trong đoàn chưa biết món đặc sản Huế nổi tiếng này nhưng ai cũng vét đến cọng mì cuối cùng trong "cái tô" làm bằng nửa trái dừa tươi còn nguyên lớp cơm đúng nạo trơn mềm và béo ngậy...
Rời "Nước của Trời" khi vừa tắt nắng, chúng tôi bắn thẳng về Terempah, "tiền trạm" của chuyến đi, với một tâm hồn và thân xác nhẹ nhàng như được tắm gội từ suối nguồn tinh khiết của thế giới tâm linh huyền diệu và tình người chan chứa trong vùng hải đảo thần tiên này...
Ngày 7 (16.04 Terempah - Batam): Đồng bào bỏ rơi...
Mới 6 giờ sáng mà băng "già quậy" đã ngồi đồng trong quán cà-phê cầu tàu rồi. Giấc ngủ đầy đủ đêm qua đã bơm lại năng lượng tiêu hao mấy hôm nay nên họ tỏ ra sung sức trở lại. Từng nhóm nhỏ lục tục kéo đến nhập đoàn, chuyện trò náo động cả cầu tàu. Chẳng biết chuyện đâu ra mà lắm thế! Ai cũng nói như thể họ bị ông xã bà huyện ở nhà "tắt đài" hàng thế kỷ không bằng...
Như đã hẹn trước, hôm nay chúng tôi sẽ cùng hát khúc "Đèo cao, dô ta..." với cánh xe ôm địa phương đi lên mỏm đồi phía trái của đảo để viếng mộ thuyền nhân.
Khoảng hai chục chiếc xe ôm đủ dạng đủ kiểu do Út Tuấn Hùng ra chợ "bắt mối" ào ào phóng tới đậu nghẹt kín trước quán cà-phê. Chúng tôi nhanh chóng bắt cặp với họ ("Nè, xấu đẹp tùy người đối diện nghe! Không được chọn anh da ngăm tóc quăn đẹp trai kia nhé. Của tôi đấy!" Cái máu tiếu lâm ngầm của các chị bây giờ mới... lộ ra hết). Đoàn xe phóng đi như con rắn dài trườn mình lên đường dốc cao, tiếng động cơ gào rú làm xao động cả một góc đảo. 
Rải rác trong bãi đất bằng trên đỉnh đồi là nơi an táng khoảng ba chục thuyền nhân Việt Nam. Đây là khu đất riêng rộng hàng trăm mẫu của một địa chủ gốc Hoa tử tế từng giúp đỡ người tỵ nạn khi họ đến Terempah hơn phần tư thế kỷ trước. Ông cũng vừa qua đời cách đây vài năm. Theo ước nguyện, phần mộ của ông được đặt trên một mô đất cao giữa những người tỵ nạn vắn số mà ông từng tự tay chôn cất. Ở vị trí này, ông có thể nhìn xuống vùng vịnh đẹp như tranh phía dưới. Ai cũng trầm trồ "quang cảnh trị giá hàng triệu đô-la" (million dollar view) đó và cũng mừng cho vong linh của những đồng bào gửi thân ở nơi tiên cảnh giữa cõi trần gian này.
Hôm nay, chúng tôi may mắn gặp được người con trai duy nhất của ông, một Mục sư hiền lành và thân thiện. Ông nói tiếng Anh khá thông thạo nên chúng tôi cũng đỡ... mỏi tay. Ông kể lại nhiều kỷ niệm thời niên thiếu của mình với người tỵ nạn VN và cho biết ông sẽ hiến tặng phần lớn đất đai của mình để xây trường tiểu học và bệnh xá cho dân địa phương, chỉ giữ lại một khoảnh nhỏ có phần mộ của thân phụ và các thuyền nhân VN trên đỉnh đồi...
Vì không có người chăm sóc trong nhiều năm nên các phần mộ của thuyền nhân VN bị xiêu lạc, mất dấu. Chúng tôi chỉ tìm thấy vài mô đất và tảng đá nhưng không có bia mộ ghi tên người quá vãng. Dân địa phương cho biết phía sau đồi cũng còn dăm ngôi mộ người Việt nữa nhưng đường dốc rất khó đi... Chúng tôi tập họp lại và cùng vị Mục sư hợp tế cho những người được an táng ở đây. Vì là địa điểm tưởng niệm cuối cùng trong chặng đường hành hương, phần nhang đèn và vàng mả còn lại của David mang từ Hoa Kỳ được mang ra đốt hết trong buổi lễ cầu nguyện này trước khi chúng tôi quay về bến tàu.
Khi nghe tin đoàn trở lại Terempah, nhóm ngư dân VN bị bắt mà chúng tôi gặp gỡ trước đó mấy ngày trong chặng đi đã xin phép cảnh sát địa phương đến gặp để tâm tình đồng bào và nhắn tin về nhà. Nói là "xin phép" vì họ đang là những người tù, bị giam lỏng trên hòn đảo này về tội xâm nhập và khai thác hải sản bất hợp pháp trong lãnh hải Nam Dương. Hàng ngày, họ vẫn được ra ngoài làm tạp dịch dưới sự giám sát của cảnh sát Nam Dương để tự nuôi thân bằng mọi việc: khuân vác bến tàu, quét dọn đường xá, phụ hồ xây dựng, khai hoang làm rẫy...
Cuộc đời tù tuy khó khăn (thường khi bị chèn ép và đôi lúc bị đánh đập) nhưng họ vẫn cảm thấy chịu đựng được vì ít ra họ còn được cho phép ra khỏi hàng rào của khu tạm giam để kiếm sống, hòa nhập vào sinh hoạt của người địa phương và hít thở không khí tự do. Điều làm họ đau đớn và tủi nhục hơn là thái độ vô cảm đến mức ghẻ lạnh của nhân viên ngoại giao của chính nước mình.
Tuy đã nhiều lần cầu cứu với Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam ở Kuala Lumpur nhưng họ chỉ chạm mặt với một bức tường im lặng khủng khiếp. Cái cơ quan có nhiệm vụ đại diện và bảo vệ cho người dân của mình ở nước ngoài này không hề can thiệp, chẳng màng cử người đến thăm hỏi, thậm chí từ chối luôn cả việc chuyển thư của họ về thân nhân trong nước. Vì không có tiền, không có người bênh vực và lại bị giam giữ ở một hải đảo xa xôi, trường hợp của họ hầu như chẳng ai ở thế giới bên ngoài biết đến.
Đa số trong nhóm các ngư dân này là từ Nha Trang và Vũng Tàu. Họ chỉ là những người "đi bạn" trên các tàu đánh cá viễn duyên đó và không hề biết đã vi phạm luật hành nghề quốc tế. Có người đã ở đây gần một năm, có người mới chỉ vài tháng và tất cả đang chờ đợi ngày ra tòa hoặc phải nộp tiền phạt mới được trả về nguyên quán. Ở Terempah hiện có khoảng 30 ngư dân Việt Nam còn bị giam giữ vì không có tiền chuộc tàu hoặc chưa lãnh án. Chúng tôi cũng được biết số ngư dân VN bị bắt trong vùng này lên đến hàng trăm và đa số đang bị giam giữ ở Tangjung Pinang.
Trong tâm tình đồng bào, nhóm ngư dân VN bị giam ở Terempah kể cho chúng tôi về hoàn cảnh khổ cực và cô đơn của họ qua làn nước mắt: "Nhiều ngày anh em tụi tôi không có việc làm, phải nhịn đói. Ai cũng mong chờ ngày về gặp lại gia đình, nhưng làm sao có được hai ba trăm triệu đồng để nộp phạt" Số tiền đó bằng cả một đời làm lụng của chúng tôi chớ ít sao... Các chủ tàu thì đã phủi tay mà 'Nhà nước mình' cũng làm ngơ. Tụi tôi chỉ biết cầu Trời!"
(Nhớ lại chuyến đi thăm các trại tỵ nạn cũ ở Mã Lai hồi cuối năm 2005, tôi cũng đã gặp một nhóm "lao động xuất khẩu" biểu tình ở Kuala Lumpur vì bị chèn ép và ngược đãi nhưng chẳng hề được Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam can thiệp hoặc giúp đỡ. Chẳng biết quý ngài nhân viên ngoại giao ở đó làm chuyện gì, ngoài việc ăn chận tiền cò từ dịch vụ buôn bán nước mắt và mồ hôi của nhân dân cùng khổ.)
Buổi gặp gỡ ngắn ngủi với nhóm ngư dân ở Terempah bị cảnh sát cắt ngang vì "hết giờ thăm nuôi". Chúng tôi góp lại những món quà thực tế để giúp họ qua cơn ngặt nghèo và nhận chuyển những lá thư gửi về nhà với cõi lòng nặng trĩu...
Chuyến ca-nô tốc hành đưa chúng tôi về lại Matak vào buổi trưa nắng đẹp. Cũng như lượt đi, máy bay đến Tangjung Pinang lại... trễ giờ. Ngồi chờ lây lất trong một quán ăn ven đường, anh Trưởng đoàn và Edi cứ quýnh quáng như gà mắc đẻ, vì nếu không kịp chuyến phà chót trong ngày về Batam, chúng tôi phải nằm lại đây và ngủ... màn trời chiếu đất.
Cũng hên, khi mọi người gần như đã... đầu hàng giờ giấc của Air Riau, chúng tôi được báo tin máy bay đã đến và sẽ cất cánh trong vòng 10 phút nữa. Thế là ba-lô lên vai và mạnh ai nấy chạy! Khi người cuối cùng bước qua khỏi cầu thang, máy bay cũng vừa lăn bánh ra phi đạo. Nhờ Edi sắp xếp sẵn, hành lý của chúng tôi gửi lại khách sạn mấy ngày trước đã được chuyển thẳng ra bến phà. Một lần nữa, chúng tôi là nhóm hành khách cuối cùng của chuyến chót trong ngày về Batam, nơi chúng tôi chỉ còn kịp thời gian để nhận phòng ở khách sạn Nagoya và... lăn đùng ra ngủ!
(còn tiếp)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.