Hôm nay,  

Mỹ-hoa Dàn Trận - Bài Bảy

10/04/201000:00:00(Xem: 12613)

Mỹ-Hoa Dàn Trận - Bài Bảy
Nguyễn Xuân Nghĩa

Ba Tháng Hưu Chiến...
Suốt tháng Ba vừa qua, cả lưỡng viện Quốc hội lẫn Chính quyền Barack Obama đồng thanh lên tiếng về vấn đề ngoại thương trong mối quan hệ của Hoa Kỳ với Trung Quốc.
Ngày 11 tháng Ba, ông Obama công bố sáng kiến khuếch trương xuất cảng. Nhân dịp này, ông còn nói thẳng đến quy chế hối đoái của đồng Nhân dân tệ, là nên dựa vào quy luật của thị trường, tức là phải ấn định cho linh động hơn. Thượng viện và Hạ viện thì đệ nạp dự luật nhằm trả đũa Trung Quốc nếu bộ Ngân Khố xác định là Bắc Kinh có thao túng hối suất đồng bạc - định giá quá thấp để chiếm lợi thế cạnh tranh khi bán hàng rẻ hơn vào thị trường Hoa Kỳ. Quốc hội Mỹ cũng yêu cầu bộ Ngân khố phải điều tra và xác nhận việc đó trong phúc trình định kỳ, sẽ phải công bố ngày 15 tháng này.
Hôm mùng ba, Tổng trưởng Ngân khố thông báo việc đình hoãn phúc trình, với lý do là "đôi bên sẽ có hàng loạt những phiên họp rất quan trọng ở cấp cao trong vòng ba tháng tới nhằm xây dựng một cơ chế kinh tế toàn cầu vững mạnh, quân bình và bền vững hơn". Vài ngày sau, hôm mùng bảy, bộ Ngân khố bất ngờ cho biết là Tổng trưởng Geithner sẽ qua Bắc Kinh hội kiến với Phó Thủ tướng Vương Kỳ Sơn vào mùng tám. Nghị trình của phiên họp mật không được công bố nhưng tất nhiên phải liên hệ đến việc Hoa Kỳ muốn Bắc Kinh điều chỉnh hối suất đồng bạc trong nỗ lực "xây dựng một cơ chế kinh tế toàn cầu quân bình hơn". Tức là các nước công nghiệp hóa phải tiêu thụ ít đi và xuất cảng nhiều hơn, các nước đang phát triển phải nhập cảng nhiều hơn.
Việc bộ Ngân khố - Chính quyền Obama - muốn tránh một cuộc đụng độ trực tiếp do quyết định của Quốc hội có thể được giải thích ở ba kỳ hội kiến sắp tới giữa lãnh đạo hai nước. Ông Obama sẽ gặp Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tại Thượng đỉnh về An ninh Chiến lược ở thủ đô Mỹ trong hai ngày 12-13 tới. Sau đó, cuối tháng Năm, đại diện hai nước sẽ có kỳ họp bán niên - sáu tháng một lần - trong khuôn khổ đối thoại của diễn đàn "U.S.-China Strategic and Economic Dialogue" mà Chính quyền Bush thành lập trước đây. Cuối tháng Sáu còn có Thượng đỉnh của nhóm G-20 tại Toronto để lãnh tụ hai chục quốc gia giàu mạnh nhất nói chuyện về tái quân bình cơ cấu kinh tế toàn cầu. Và việc Bắc Kinh cần điều chỉnh đồng Nguyên tất nhiên sẽ lại được nêu ra....
Ngẫu nhiên sao, Bộ trưởng Thương mại Trần Đức Minh của Bắc Kinh loan báo đúng hôm mùng tám, khi ông Geithner vừa từ Hong Kong tới Bắc Kinh, rằng trong tháng Ba vừa qua Trung Quốc có thể bị nhập siêu - mua nhiều hơn bán. Lần đầu tiên từ sáu năm nay mà kinh tế xứ này không đạt thặng dư mậu dịch, điều ấy cho thấy Trung Quốc có nhập cảng nhiều hơn xuất cảng và vấn đề vì vậy không thuộc về lợi thế bất chính của đồng Nhân dân tệ! Trên các diễn đàn quốc tế, các nhân vật thuộc loại Lỗ Túc của Bắc Kinh sẽ không lỡ dịp luận bàn như vậy để biện hộ cho Trung Quốc (về trò "Lỗ Túc", xin xem bài "Những Lỗ Túc và Trọng Thủy..." trên cột báo này trong số ra ngày ba tháng Tư tuần trước).
Như vậy, ta thấy Chính quyền Obama tỏ chiện chí đơn phương hưu chiến để Bắc Kinh có thể biện bạch linh tinh hầu khỏi mất thể diện mà chủ động nâng hối suất đồng bạc. Khả thi nhất là mở rộng biên độ giao dịch rồi tăng tỷ giá đồng Nhân dân tệ thêm vài phần trăm rất tượng trưng trước khi có các cuộc họp kể trên.
Nhưng, thật ra việc hưu chiến chỉ kéo dài ba tháng. Trong ba tháng đó Trung Quốc chưa thể điều chỉnh được cơ chế kinh tế của mình và mâu thuẫn với Hoa Kỳ sẽ chỉ tăng chứ không giảm. Rồi lan rộng thành mâu thuẫn với nhiều xứ khác.
Chúng ta cần tìm hiểu chuyện này.
Hoa Kỳ thời Richard Nixon đã kéo Trung Quốc ra khỏi tình trạng cô lập và khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách kinh tế thì Mỹ đã tạo điều kiện cho xứ này bước vào thời kỳ công nghiệp hoá. Trong ba chục năm liền, từ 1979 đến năm ngoái, thị trường tiêu thụ tại Hoa Kỳ được rộng mở cho hàng hóa Trung Quốc và xứ này thực sự làm một cuộc cách mạng kinh tế với khu vực chế biến và xuất cảng trở thành đầu máy tăng trưởng. So với các nước cùng bán hàng cho Mỹ, Trung Quốc có lợi thế là đông dân, lương rẻ và nhất là đồng Nhân dân tệ được giàng giá vào Mỹ kim. Cái gọi là "phép lạ kinh tế Trung Quốc" xuất phát từ đó.
Nhìn từ Hoa Kỳ, việc mở rộng thị trường nhập cảng cho các nước dễ dàng bán hàng vào Mỹ nằm trong mục tiêu chiến lược là "kết bạn qua mậu dịch", là tạo ra một liên minh với các nước nhờ quyền lợi ngoại thương. Cái giá phải trả cho việc mua chuộc bằng nhập cảng là tình trạng nhập siêu, đã từng có với các đồng minh chiến lược trước đây, rồi với Trung Quốc, hay Việt Nam sau này.


Lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc - người đông, lương thấp và tiền rẻ - tất nhiên gây thiệt hại cho nhiều nhà sản xuất khác, của các nước vẫn bán hàng cho Mỹ và của cả doanh nghiệp Mỹ. Đấy là yếu tố gây mâu thuẫn về quyền lợi. Từ cả chục năm nay, mâu thuẫn giữa Trung Quốc và (doanh nghiệp) Hoa Kỳ được đôi bên giải quyết theo cách tương nhượng, trong một thế quân bình bất ổn vì cả hai đều cần nhau. Trung Quốc cần thị trường Mỹ để bán hàng và tái đầu tư tài sản của mình vào Mỹ. Hoa Kỳ cần Trung Quốc được ổn định và tiếp tục vay tiền Trung Quốc để duy trì mức chi tiêu quá cao của mình.
Nạn tổng suy trầm toàn cầu năm 2008-2009 chấm dứt khả năng tương nhượng đó.
Kinh tế Trung Quốc có những mâu thuẫn và nhược điểm nội tại nên phải duy trì đà tăng trưởng cao để tránh bị động loạn bên trong. Khi thế giới bị suy trầm, xứ này ráo riết bơm tiền kích thích kinh tế và trở lại chánh sách hối đoái có can thiệp là định hối suất rất thấp để đẩy mạnh xuất cảng. Một Mỹ kim trước đây "ăn" khoảng 8,27 đồng Nguyên nay chỉ còn 6,83 đồng. Dù biết rằng mình phải cải sửa cơ chế kinh tế để ít lệ thuộc hơn vào thị trường xuất cảng, lãnh đạo Bắc Kinh chưa thể làm khác được, nếu không là sẽ bị loạn.
Chánh sách thật ra tuyệt vọng ấy trực tiếp gây họa cho một Hoa Kỳ còn tuyệt vọng hơn.
Nước Mỹ mắc nợ quá nhiều, bị thất nghiệp tới gần 10% trong một nền kinh tế chưa thể tăng tưởng mạnh sau vụ tổng suy trầm. Hãy làm một con tính nhẩm: nếu mỗi ba tháng mà mức thất nghiệp mới giảm được 0,50% - một kịch bản lạc quan - thì 30 tháng nữa, tỷ lệ thất nghiệp mới trở lại mức "chịu đựng được" là gần 5%. Một thời gian đằng đẵng trên tấm lịch bầu cử! Trong khi ấy, Chính quyền Barack Obama lại muốn vay tiền để cải tạo xã hội và biết là sẽ thất cử nếu không giảm mức thất nghiệp và kích thích sản xuất. Tình trạng tuyệt vọng ấy về chính trị khiến ông đảo ngược chiến lược mở cửa mua hàng để kết bạn mà Hoa Kỳ đã từng theo đuổi.
Xuất cảng trở thành ưu tiên chiến lược, từ nay được các cơ quan của chính quyền trực tiếp yểm trợ.
Lãnh đạo Hoa Kỳ vì vậy mới làm áp lực với Bắc Kinh để Trung Quốc phải mở thị trường nội địa của mình và chấm dứt chế độ hối suất cố định. Bắc Kinh trả lời rằng Trung Quốc đạt xuất siêu cao là nhờ lý do khác hơn là nhờ hối suất đồng bạc. Vả lại, với tỷ lệ sanh lời của xuất cảng thật ra quá thấp - 1,7% như họ thông báo tuần trước - nếu nâng hối suất thì khu vực xuất cảng sẽ phá sản! Và kinh tế thế giới sẽ loạn to.
Trong ba tháng tới đây, hai bên sẽ đôi co tranh cãi như vậy về chuyện áo cơm gạo củi. Lồng trong đó còn nhiều vấn đề về an ninh - chuyện Iran hay Đài Loan, hoặc tình hình Trung Á là nơi Liên bang Nga vừa đạt thêm một thắng lợi với vụ biến động tại Kyrgyzstan mà Hoa Kỳ và Trung Quốc đều ngồi chầu rìa, các cơ sở của Hoa kiều bị tấn công, v.v... Đây là lúc Bắc Kinh thi thố khả năng gây dựng ấn tượng bằng cách tác động vào dư luận Mỹ qua những diễn đàn thân hữu của mình.
Nhưng dư luận đa số người Mỹ thì chú ý đến công ăn việc làm và không hài lòng với hai thế lực họ cho là có ảnh hưởng: Trung Quốc và lãnh đạo Mỹ. Nỗi thất vọng ấy sẽ được thể hiện bằng lá phiếu vào mùng hai tháng 11 tới đây.
Vì vậy, lãnh đạo Mỹ không hưu chiến được lâu. Qua ba bốn cuộc đàm đạo, Chính quyền Obama cần chứng minh với dân Mỹ rằng mình không suy nhược, dám nói mạnh, làm mạnh. Quốc hội Mỹ thì bày tỏ ý chí triệt để bảo vệ quyền lợi dân Mỹ. Cho nên Bắc Kinh còn bị áp lực về nhiều mặt và mâu thuẫn Mỹ-Hoa càng có nguy cơ bùng nổ vì mọi nhượng bộ của Trung Quốc đều được coi là chưa đủ.
Trong khi ấy, các khối kinh tế khác như Nhật Bản hay Âu Châu cũng gặp khó khăn và cần giảm đà tiêu thụ, tăng mức xuất cảng, y hệt như Hoa Kỳ. Riêng tình hình Liên hiệp Âu châu còn bất trắc hơn vì khủng hoảng của bốn nước miền Nam trong khối Euro - Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ý Đại Lợi. Phản ứng bảo hộ mậu dịch - protectionism - đang lại thắng thế và nhiều chính quyền tại chức bị nguy cơ thất cử. Vì vậy, Âu Châu theo dõi kỹ chuyện Mỹ-Hoa dàn trận và sẽ ủng hộ quan điểm của Mỹ về vị trí đồng Nguyên trên các diễn đàn quốc tế, như Thượng đỉnh G-20 vào tháng Sáu.
Sau nhiều thất bại với Liên Âu và NATO về đối sách với Nga hay về chiến trường Afghanistan, lần đầu tiên mà Tổng thống Obama có cơ hội cho thấy là ông không mềm yếu lại còn liên kết được với các đồng minh chiến lược bên kia Đại Tây dương. Nên ông sẽ không bỏ lỡ.
Chúng ta đang chứng kiến một vụ đụng độ xuất phát từ hai dự án cách mạng xã hội, của Trung Quốc và Hoa Kỳ. Ly kỳ!

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.