Hôm nay,  

Mỹ-hoa Dàn Trận - Bài Bảy

10/04/201000:00:00(Xem: 12466)

Mỹ-Hoa Dàn Trận - Bài Bảy
Nguyễn Xuân Nghĩa

Ba Tháng Hưu Chiến...
Suốt tháng Ba vừa qua, cả lưỡng viện Quốc hội lẫn Chính quyền Barack Obama đồng thanh lên tiếng về vấn đề ngoại thương trong mối quan hệ của Hoa Kỳ với Trung Quốc.
Ngày 11 tháng Ba, ông Obama công bố sáng kiến khuếch trương xuất cảng. Nhân dịp này, ông còn nói thẳng đến quy chế hối đoái của đồng Nhân dân tệ, là nên dựa vào quy luật của thị trường, tức là phải ấn định cho linh động hơn. Thượng viện và Hạ viện thì đệ nạp dự luật nhằm trả đũa Trung Quốc nếu bộ Ngân Khố xác định là Bắc Kinh có thao túng hối suất đồng bạc - định giá quá thấp để chiếm lợi thế cạnh tranh khi bán hàng rẻ hơn vào thị trường Hoa Kỳ. Quốc hội Mỹ cũng yêu cầu bộ Ngân khố phải điều tra và xác nhận việc đó trong phúc trình định kỳ, sẽ phải công bố ngày 15 tháng này.
Hôm mùng ba, Tổng trưởng Ngân khố thông báo việc đình hoãn phúc trình, với lý do là "đôi bên sẽ có hàng loạt những phiên họp rất quan trọng ở cấp cao trong vòng ba tháng tới nhằm xây dựng một cơ chế kinh tế toàn cầu vững mạnh, quân bình và bền vững hơn". Vài ngày sau, hôm mùng bảy, bộ Ngân khố bất ngờ cho biết là Tổng trưởng Geithner sẽ qua Bắc Kinh hội kiến với Phó Thủ tướng Vương Kỳ Sơn vào mùng tám. Nghị trình của phiên họp mật không được công bố nhưng tất nhiên phải liên hệ đến việc Hoa Kỳ muốn Bắc Kinh điều chỉnh hối suất đồng bạc trong nỗ lực "xây dựng một cơ chế kinh tế toàn cầu quân bình hơn". Tức là các nước công nghiệp hóa phải tiêu thụ ít đi và xuất cảng nhiều hơn, các nước đang phát triển phải nhập cảng nhiều hơn.
Việc bộ Ngân khố - Chính quyền Obama - muốn tránh một cuộc đụng độ trực tiếp do quyết định của Quốc hội có thể được giải thích ở ba kỳ hội kiến sắp tới giữa lãnh đạo hai nước. Ông Obama sẽ gặp Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tại Thượng đỉnh về An ninh Chiến lược ở thủ đô Mỹ trong hai ngày 12-13 tới. Sau đó, cuối tháng Năm, đại diện hai nước sẽ có kỳ họp bán niên - sáu tháng một lần - trong khuôn khổ đối thoại của diễn đàn "U.S.-China Strategic and Economic Dialogue" mà Chính quyền Bush thành lập trước đây. Cuối tháng Sáu còn có Thượng đỉnh của nhóm G-20 tại Toronto để lãnh tụ hai chục quốc gia giàu mạnh nhất nói chuyện về tái quân bình cơ cấu kinh tế toàn cầu. Và việc Bắc Kinh cần điều chỉnh đồng Nguyên tất nhiên sẽ lại được nêu ra....
Ngẫu nhiên sao, Bộ trưởng Thương mại Trần Đức Minh của Bắc Kinh loan báo đúng hôm mùng tám, khi ông Geithner vừa từ Hong Kong tới Bắc Kinh, rằng trong tháng Ba vừa qua Trung Quốc có thể bị nhập siêu - mua nhiều hơn bán. Lần đầu tiên từ sáu năm nay mà kinh tế xứ này không đạt thặng dư mậu dịch, điều ấy cho thấy Trung Quốc có nhập cảng nhiều hơn xuất cảng và vấn đề vì vậy không thuộc về lợi thế bất chính của đồng Nhân dân tệ! Trên các diễn đàn quốc tế, các nhân vật thuộc loại Lỗ Túc của Bắc Kinh sẽ không lỡ dịp luận bàn như vậy để biện hộ cho Trung Quốc (về trò "Lỗ Túc", xin xem bài "Những Lỗ Túc và Trọng Thủy..." trên cột báo này trong số ra ngày ba tháng Tư tuần trước).
Như vậy, ta thấy Chính quyền Obama tỏ chiện chí đơn phương hưu chiến để Bắc Kinh có thể biện bạch linh tinh hầu khỏi mất thể diện mà chủ động nâng hối suất đồng bạc. Khả thi nhất là mở rộng biên độ giao dịch rồi tăng tỷ giá đồng Nhân dân tệ thêm vài phần trăm rất tượng trưng trước khi có các cuộc họp kể trên.
Nhưng, thật ra việc hưu chiến chỉ kéo dài ba tháng. Trong ba tháng đó Trung Quốc chưa thể điều chỉnh được cơ chế kinh tế của mình và mâu thuẫn với Hoa Kỳ sẽ chỉ tăng chứ không giảm. Rồi lan rộng thành mâu thuẫn với nhiều xứ khác.
Chúng ta cần tìm hiểu chuyện này.
Hoa Kỳ thời Richard Nixon đã kéo Trung Quốc ra khỏi tình trạng cô lập và khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách kinh tế thì Mỹ đã tạo điều kiện cho xứ này bước vào thời kỳ công nghiệp hoá. Trong ba chục năm liền, từ 1979 đến năm ngoái, thị trường tiêu thụ tại Hoa Kỳ được rộng mở cho hàng hóa Trung Quốc và xứ này thực sự làm một cuộc cách mạng kinh tế với khu vực chế biến và xuất cảng trở thành đầu máy tăng trưởng. So với các nước cùng bán hàng cho Mỹ, Trung Quốc có lợi thế là đông dân, lương rẻ và nhất là đồng Nhân dân tệ được giàng giá vào Mỹ kim. Cái gọi là "phép lạ kinh tế Trung Quốc" xuất phát từ đó.
Nhìn từ Hoa Kỳ, việc mở rộng thị trường nhập cảng cho các nước dễ dàng bán hàng vào Mỹ nằm trong mục tiêu chiến lược là "kết bạn qua mậu dịch", là tạo ra một liên minh với các nước nhờ quyền lợi ngoại thương. Cái giá phải trả cho việc mua chuộc bằng nhập cảng là tình trạng nhập siêu, đã từng có với các đồng minh chiến lược trước đây, rồi với Trung Quốc, hay Việt Nam sau này.


Lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc - người đông, lương thấp và tiền rẻ - tất nhiên gây thiệt hại cho nhiều nhà sản xuất khác, của các nước vẫn bán hàng cho Mỹ và của cả doanh nghiệp Mỹ. Đấy là yếu tố gây mâu thuẫn về quyền lợi. Từ cả chục năm nay, mâu thuẫn giữa Trung Quốc và (doanh nghiệp) Hoa Kỳ được đôi bên giải quyết theo cách tương nhượng, trong một thế quân bình bất ổn vì cả hai đều cần nhau. Trung Quốc cần thị trường Mỹ để bán hàng và tái đầu tư tài sản của mình vào Mỹ. Hoa Kỳ cần Trung Quốc được ổn định và tiếp tục vay tiền Trung Quốc để duy trì mức chi tiêu quá cao của mình.
Nạn tổng suy trầm toàn cầu năm 2008-2009 chấm dứt khả năng tương nhượng đó.
Kinh tế Trung Quốc có những mâu thuẫn và nhược điểm nội tại nên phải duy trì đà tăng trưởng cao để tránh bị động loạn bên trong. Khi thế giới bị suy trầm, xứ này ráo riết bơm tiền kích thích kinh tế và trở lại chánh sách hối đoái có can thiệp là định hối suất rất thấp để đẩy mạnh xuất cảng. Một Mỹ kim trước đây "ăn" khoảng 8,27 đồng Nguyên nay chỉ còn 6,83 đồng. Dù biết rằng mình phải cải sửa cơ chế kinh tế để ít lệ thuộc hơn vào thị trường xuất cảng, lãnh đạo Bắc Kinh chưa thể làm khác được, nếu không là sẽ bị loạn.
Chánh sách thật ra tuyệt vọng ấy trực tiếp gây họa cho một Hoa Kỳ còn tuyệt vọng hơn.
Nước Mỹ mắc nợ quá nhiều, bị thất nghiệp tới gần 10% trong một nền kinh tế chưa thể tăng tưởng mạnh sau vụ tổng suy trầm. Hãy làm một con tính nhẩm: nếu mỗi ba tháng mà mức thất nghiệp mới giảm được 0,50% - một kịch bản lạc quan - thì 30 tháng nữa, tỷ lệ thất nghiệp mới trở lại mức "chịu đựng được" là gần 5%. Một thời gian đằng đẵng trên tấm lịch bầu cử! Trong khi ấy, Chính quyền Barack Obama lại muốn vay tiền để cải tạo xã hội và biết là sẽ thất cử nếu không giảm mức thất nghiệp và kích thích sản xuất. Tình trạng tuyệt vọng ấy về chính trị khiến ông đảo ngược chiến lược mở cửa mua hàng để kết bạn mà Hoa Kỳ đã từng theo đuổi.
Xuất cảng trở thành ưu tiên chiến lược, từ nay được các cơ quan của chính quyền trực tiếp yểm trợ.
Lãnh đạo Hoa Kỳ vì vậy mới làm áp lực với Bắc Kinh để Trung Quốc phải mở thị trường nội địa của mình và chấm dứt chế độ hối suất cố định. Bắc Kinh trả lời rằng Trung Quốc đạt xuất siêu cao là nhờ lý do khác hơn là nhờ hối suất đồng bạc. Vả lại, với tỷ lệ sanh lời của xuất cảng thật ra quá thấp - 1,7% như họ thông báo tuần trước - nếu nâng hối suất thì khu vực xuất cảng sẽ phá sản! Và kinh tế thế giới sẽ loạn to.
Trong ba tháng tới đây, hai bên sẽ đôi co tranh cãi như vậy về chuyện áo cơm gạo củi. Lồng trong đó còn nhiều vấn đề về an ninh - chuyện Iran hay Đài Loan, hoặc tình hình Trung Á là nơi Liên bang Nga vừa đạt thêm một thắng lợi với vụ biến động tại Kyrgyzstan mà Hoa Kỳ và Trung Quốc đều ngồi chầu rìa, các cơ sở của Hoa kiều bị tấn công, v.v... Đây là lúc Bắc Kinh thi thố khả năng gây dựng ấn tượng bằng cách tác động vào dư luận Mỹ qua những diễn đàn thân hữu của mình.
Nhưng dư luận đa số người Mỹ thì chú ý đến công ăn việc làm và không hài lòng với hai thế lực họ cho là có ảnh hưởng: Trung Quốc và lãnh đạo Mỹ. Nỗi thất vọng ấy sẽ được thể hiện bằng lá phiếu vào mùng hai tháng 11 tới đây.
Vì vậy, lãnh đạo Mỹ không hưu chiến được lâu. Qua ba bốn cuộc đàm đạo, Chính quyền Obama cần chứng minh với dân Mỹ rằng mình không suy nhược, dám nói mạnh, làm mạnh. Quốc hội Mỹ thì bày tỏ ý chí triệt để bảo vệ quyền lợi dân Mỹ. Cho nên Bắc Kinh còn bị áp lực về nhiều mặt và mâu thuẫn Mỹ-Hoa càng có nguy cơ bùng nổ vì mọi nhượng bộ của Trung Quốc đều được coi là chưa đủ.
Trong khi ấy, các khối kinh tế khác như Nhật Bản hay Âu Châu cũng gặp khó khăn và cần giảm đà tiêu thụ, tăng mức xuất cảng, y hệt như Hoa Kỳ. Riêng tình hình Liên hiệp Âu châu còn bất trắc hơn vì khủng hoảng của bốn nước miền Nam trong khối Euro - Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ý Đại Lợi. Phản ứng bảo hộ mậu dịch - protectionism - đang lại thắng thế và nhiều chính quyền tại chức bị nguy cơ thất cử. Vì vậy, Âu Châu theo dõi kỹ chuyện Mỹ-Hoa dàn trận và sẽ ủng hộ quan điểm của Mỹ về vị trí đồng Nguyên trên các diễn đàn quốc tế, như Thượng đỉnh G-20 vào tháng Sáu.
Sau nhiều thất bại với Liên Âu và NATO về đối sách với Nga hay về chiến trường Afghanistan, lần đầu tiên mà Tổng thống Obama có cơ hội cho thấy là ông không mềm yếu lại còn liên kết được với các đồng minh chiến lược bên kia Đại Tây dương. Nên ông sẽ không bỏ lỡ.
Chúng ta đang chứng kiến một vụ đụng độ xuất phát từ hai dự án cách mạng xã hội, của Trung Quốc và Hoa Kỳ. Ly kỳ!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.